Theo thống kê có khoảng 8 ngân hàng đang áp dụng lãi suất huy động vượt 6%/năm cho kỳ hạn gửi 6 tháng, trong đó mức cao nhất chạm mốc 7%/năm.
Trong tháng 1/2026, khung lãi suất huy động vốn đối với kỳ hạn 6 tháng được ghi nhận tại các ngân hàng thương mại trong nước dao động từ 2,9%/năm đến 7%/năm áp dụng cho khách hàng cá nhân gửi tại quầy, theo hình thức lĩnh lãi cuối kỳ.

Nguồn: Tổng hợp.
Hiện tại, mức lãi suất tiền gửi cao nhất cho khách hàng cá nhân cho kỳ hạn 6 tháng được ghi nhận tại Ngân hàng Bắc Á với lãi suất lên tới 7%/năm, tuy nhiên kèm điều kiện gửi trên 1 tỷ đồng. Nếu dưới mức này, Bắc Á sẽ chi trả 6,8%/năm.
Trong khi đó, Vikki đứng vị trí thứ hai khi triển khai lãi suất 6,4%/năm, nhỉnh hơn mức 6,3%/năm của VPBank (trên 10 tỷ đồng) và ABBank.
Cùng mức 6,2%/năm là lãi suất huy động mà VCBNeo, OCB và VPBank (từ 3 tỷ đến 10 tỷ đồng) đang triển khai.
Trong khi đó, chỉ duy nhất BVBank đang để mức lãi suất tiền gửi là 6,15%/năm và 6%/năm là lãi suất đang được áp dụng tại NCB.
Như vậy theo thống kê có khoảng 8 ngân hàng đang áp dụng lãi suất huy động vượt 6%/năm cho kỳ hạn gửi nửa năm.
Bên cạnh đó còn rất nhiều ngân hàng triển khai lãi suất cạnh tranh dao động quanh từ 5% đến dưới 6%/năm.
Chẳng hạn VIB và PVcomBank cùng triển khai 5,5%/năm, Kienlongbank và SHB áp dụng 5,3%/năm, LPBank và VietBank cùng neo ở 5,2%/năm.
Trong bảng so sánh lãi suất ngân hàng, nhóm đang triển khai lãi suất huy động từ 4% đến dưới 5%/năm bao gồm TPBank (4,9%/năm). Các ngân hàng MB (> 1 tỷ), Eximbank, MSB áp dụng 4,7%/năm.
Riêng tại 4 ngân hàng quốc doanh đang áp dụng lãi suất cho kỳ hạn 6 tháng, trả lãi cuối kỳ như sau: BIDV, Vietcombank và VietinBank tiếp tục triển khai mức lãi suất 3,5%/năm. Riêng Agribank vượt bậc hơn với mức lãi suất tiết kiệm 3,8%/năm. Trong khi đó SCB áp dụng lãi suất trả lãi duy trì 2,9%/năm.
Bảng so sánh lãi suất ngân hàng mới nhất tháng 1/2026 cho kỳ hạn 6 tháng
|
Ngân hàng |
6 tháng (%/năm) |
|
Bắc Á (> 1 tỷ) |
7,00 |
|
Bắc Á (< 1 tỷ) |
6,80 |
|
Vikki |
6,40 |
|
VPBank (>10 tỷ) |
6,30 |
|
ABBank |
6,30 |
|
VPBank (3-10 tỷ) |
6,20 |
|
OCB |
6,20 |
|
VCBNeo |
6,20 |
|
BVBank |
6,15 |
|
NCB |
6,00 |
|
VPBank (<1 tỷ) |
6,00 |
|
VPBank (1-3 tỷ) |
6,00 |
|
VIB (10 – 300 tr) |
5,50 |
|
VIB (300tr – 3 tỷ) |
5,50 |
|
VIB (> 3 tỷ) |
5,50 |
|
PVcomBank |
5,50 |
|
HDBank |
5,40 |
|
Kienlongbank |
5,30 |
|
SHB (> 2 tỷ) |
5,30 |
|
Techcombank |
5,25 |
|
LPBank |
5,20 |
|
SHB (< 2 tỷ) |
5,20 |
|
VietBank |
5,20 |
|
TPBank |
4,90 |
|
MB (> 1 tỷ) |
4,70 |
|
Eximbank |
4,70 |
|
MSB |
4,70 |
|
MB (<1 tỷ) |
4,50 |
|
ACB |
4,50 |
|
Agribank |
3,80 |
|
VietinBank |
3,50 |
|
Vietcombank |
3,50 |
|
BIDV |
3,50 |
|
SCB |
2,90 |
Nguồn: PV tổng hợp.
Cuộc cạnh tranh giành nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư tiếp tục leo thang khi nhiều ngân hàng mạnh tay đẩy lãi suất tiết kiệm lên mức cao nhất trong nhiều tháng qua. Không ít nhà băng niêm yết lãi suất vượt 7,5%/năm, thậm chí chạm ngưỡng 8%-9%/năm đối với các khoản tiền gửi lớn hoặc gửi trực tuyến, qua đó thiết lập mặt bằng lãi suất mới trên thị trường.
Nhận định về làn sóng tăng lãi suất huy động, Giáo sư, Tiến sỹ Trần Ngọc Thơ (Đại học Kinh tế TP HCM), cho rằng cuộc đua này đang diễn ra theo hướng phân hóa rõ rệt. Nhóm ngân hàng quy mô nhỏ, năng lực huy động hạn chế, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) thấp hoặc thương hiệu chưa mạnh buộc phải trả lãi cao, thường đi kèm các chương trình cộng thêm lãi suất cho tiền gửi trực tuyến hoặc theo ngày.
Theo ông Thơ, lãi suất thực nhận tại nhiều ngân hàng đã được đẩy lên vùng 6,7%-6,8%/năm cho các kỳ hạn phổ biến, thậm chí có nơi đạt 7,6%-8%/năm tùy chi nhánh và số tiền gửi.
Nguyên nhân cốt lõi là cạnh tranh thanh khoản đang dần biến thành cạnh tranh sinh tồn, khi một bộ phận ngân hàng phải giữ bằng được dòng tiền trong bối cảnh áp lực tái cơ cấu và củng cố niềm tin thị trường.
Không chỉ vậy, khi chi phí huy động tăng nhanh hơn tốc độ tái định giá tài sản, biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng bị thu hẹp. Trong điều kiện bình thường, ngân hàng có thể bù đắp bằng cách tăng lãi suất cho vay. Tuy nhiên, hiện nay dư địa điều chỉnh lãi vay lại bị giới hạn bởi ba yếu tố: sức chịu đựng của doanh nghiệp, mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và sự cạnh tranh gay gắt trong hoạt động tín dụng.
Đáng chú ý, từ cuối tháng 12/2025, cả 4 ngân hàng thương mại Nhà nước – nhóm Big4 – đã đồng loạt điều chỉnh biểu lãi suất theo hướng tăng. Theo ông Trần Ngọc Thơ, động thái này cho thấy xu hướng cạnh tranh không còn giới hạn trong khối ngân hàng cổ phần mà đã lan sang các “ông lớn” giữ vai trò dẫn dắt thị trường.
Việc Big4 tăng lãi suất không chỉ tạo lực hút mạnh đối với dòng tiền gửi dân cư mà còn phản ánh nhu cầu vốn trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng đang gia tăng. Đây cũng là tín hiệu cho thấy mặt bằng lãi suất khó có thể quay lại mức thấp như giai đoạn trước.
lãi suất, lãi suất ngân hàng, Lãi suất tiền gửi, lãi suất tiết kiệm, so sánh lãi suất ngân hàng#Những #ngamp226n #hamp224ng #namp224o #đang #trả #lamp227i #suất #tiết #kiệm #tramp234n #6năm #cho #kỳ #hạn #thamp225ng1769074546





