Thời gian của lụa

Thời gian của lụa插图

Trong căn nhà nhỏ nằm sâu trong làng lụa Vạn Phúc, nghệ nhân Đỗ Văn Hiển lặng lẽ ngồi bên những bản vẽ hoa văn lụa. Hơn nửa thế kỷ qua, ông gắn bó với công việc ít người làm và càng ít người đủ kiên nhẫn theo đuổi: Thiết kế hoa văn cho lụa Vạn Phúc. Ông là một chứng nhân không chỉ giữ gìn một công đoạn của nghề lụa, mà dường như giữ cả ký ức, bản sắc của một làng lụa Vạn Phúc nghìn năm.

Thời gian của lụa

Trong căn phòng rộng chưa đầy 15 mét vuông nằm sâu cuối ngõ làng Vạn Phúc, tiếng bấm chuột máy tính đều đặn, nghe tưởng như lạc nhịp giữa một không gian đầy tiếng thoi đưa lách cách rộn rã của những xưởng dệt xung quanh đang chạy đua với vụ Tết.

Nghệ nhân Đỗ Văn Hiển nheo đôi mắt mờ sau cặp kính lão dày cộp, dán chặt vào màn hình máy tính. Trên đó không phải là tin tức thời sự, mà là một “ma trận” những ô vuông nhỏ li ti đang được tô màu xanh đỏ. Ông đang phóng to một họa tiết rồng thời Lê, chia nhỏ nó thành hàng nghìn điểm để máy dệt có thể “hiểu” được.

Bên ngoài khung cửa sổ, dòng người du xuân cười nói, xúng xính trong những tà áo dài cách tân. Nhưng ở trong này, thời gian như ngưng đọng trên đôi bàn tay lấm tấm đồi mồi đang di chuyển con chuột máy tính một cách chậm chạp nhưng chính xác.

Ông Hiển không đơn thuần là đang vẽ. Ông đang làm một công việc mà ông đã lặp lại suốt hàng chục năm qua: “Phiên dịch” những hoa văn lụa cổ, những đám mây, ngọn trúc, đóa sen từ ngôn ngữ dân gian sang ngôn ngữ của kỹ thuật số.

Người đàn ông đang ngồi một mình trong căn phòng ấy là một “nghịch lý” sống động của Vạn Phúc. Ông là nghệ nhân duy nhất của làng còn giữ nghề thiết kế hoa văn lụa và sử dụng thành thạo các phần mềm đồ họa.

Thời gian của lụa

Câu chuyện của ông Hiển không chỉ là chân dung của một cá nhân, mà là lát cắt đại diện cho cuộc “vật lộn” sinh tồn của cả một làng nghề thủ công nghìn năm tuổi trước ngưỡng cửa số hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Làng Vạn Phúc đang đứng trước những trăn trở kép: Sự tấn công ồ ạt của lụa giả “mượn hồn” thương hiệu và sự đứt gãy thế hệ khi người trẻ lần lượt rời bỏ khung cửi.

Ông Hiển, với vai trò là gạch nối duy nhất giữa thủ công và công nghệ, giữa quá khứ và hiện tại đang như “thành trì” cuối cùng lưu giữ bản sắc gốc của lụa Hà Đông.

Như ông Nguyễn Văn Hùng, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc nhận định đầy trăn trở: “Nếu không có những người ‘gác đền’ am hiểu tường tận cả kỹ thuật lẫn nghệ thuật như chú Hiển, lụa Vạn Phúc có nguy cơ chỉ còn là cái vỏ rỗng ruột trước cơn bão thị trường”.

Thời gian của lụa

Để hiểu được giá trị của những cái bấm chuột ngày hôm nay, có thể thử nhìn lại những vết chai sạn trong quá khứ. Ông Hiển nhớ lại năm 1986, là thời điểm “bĩ cực” nhất khi cơ chế bao cấp xóa bỏ. Hàng loạt khung cửi “kỳ cựu” bị người làng dỡ ra, đem đốt làm củi vì không bán được lụa.

Chàng kỹ sư Bách Khoa Đỗ Văn Hiển khi ấy đã chọn cách “lao vào lửa” để cứu nghề. Ông bỏ phố về làng, xin vào hợp tác xã làm thuê. Và ký ức in sâu vào tâm trí ông chính là những ngày đêm miệt mài với những ô vuông trên giấy.

“Thời ấy làm gì có máy móc. Muốn thiết kế được một mẫu hoa văn lụa, tôi phải ngồi kẻ tay hàng ngàn ô vuông nhỏ li ti trên giấy khổ lớn. Mỗi ô là một sợi tơ, một nhịp đập của máy. Suốt hai tuần ròng rã, mắt mờ đi, lưng đau nhức nhối mới xong một bản vẽ. Sau đó là đục lỗ thủ công trên bìa các-tông – thứ được ví như ‘bộ não’ của khung cửi. Đục sai một lỗ là phải làm lại, công sức đổ sông đổ bể,” ông Hiển vừa nói vừa chỉ tay vào đống bìa đục lỗ cũ kỹ xếp phủ bụi trong góc nhà.

Thời gian của lụa

Sự vất vả trong các công đoạn thủ công đã đẩy làng nghề đến bờ vực tụt hậu. Trong khi thế giới bên ngoài đang thay đổi từng ngày, Vạn Phúc vẫn loay hoay với những mẫu mã cũ kỹ, năng suất thấp.

Và chính ông Hiển, năm 1995, đã tạo ra cú hích lịch sử: Số hóa cho hoa văn lụa.

Ông là người đầu tiên ở làng dám vứt bỏ bút chì, thước kẻ để cầm chuột máy tính, mày mò học cách sử dụng phần mềm Corel Draw để thiết kế hoa văn lụa mà không biết một chữ tiếng Anh. Ông biến những con rồng bay phượng múa trong tâm trí thành những ma trận điểm ảnh, sau đó đưa vào máy đục bìa tự động mà ông cùng Viện Kinh tế kỹ thuật dệt may Việt Nam sáng tạo vào năm 2008.

“Hồi đó nét vẽ trên máy còn ngô nghê lắm vì chưa thạo, nhưng tôi mừng rơi nước mắt. Từ 20 ngày cho các khâu thiết kế, đục đẽo khổ sở, tôi rút quy trình thiết kế và đục tự động xuống còn khoảng 3 ngày.

Công nghệ mới không giết chết thủ công, mà nó giải phóng đôi tay người thợ, để họ dành sức chăm chút cho chất lượng sợi tơ,” ông Hiển nói.

Sự chuyển đổi này không chỉ là vấn đề năng suất. Dưới góc nhìn quản lý, ông Nguyễn Văn Hùng phân tích: “Bước ngoặt công nghệ mà chú Hiển mang lại những năm đầu 2000 đã giúp Vạn Phúc sống sót qua thời kỳ mở cửa đổi mới. Nó vừa giúp tiết kiệm thời gian, chi phí; đồng thời chứng minh một triết lý quan trọng: Muốn bảo tồn nét đẹp truyền thống, đôi khi phải dùng chính các công cụ của thời hiện đại”.

Thời gian của lụa

Khi bài toán năng suất được giải quyết, lụa Vạn Phúc trong những năm gần đây lại đối mặt với một kẻ thù mới, tinh vi và nguy hiểm hơn: Sự “nhập nhèm” giữa thật – giả.

Ông Hiển đứng dậy, đi về phía kệ trưng bày lụa. Đôi bàn tay gầy guộc của ông khẽ lướt qua một tấm lụa vân mây màu mỡ gà. Ông không nhìn, chỉ chạm.

“Cầm tấm lụa tơ tằm thật, cảm giác đầu tiên là cái mát rượi lan vào da thịt, nhưng ngay sau đó là sự ấm áp, mềm mại ôm lấy bàn tay. Nó vừa có độ mềm và độ đanh của sợi tự nhiên. Còn hàng giả toàn là nilon, sờ vào thấy trơn tuột, bóng bẩy nhưng lạnh lẽo và vô hồn,” ông Hiển nói.

Sự nhạy cảm của các nghệ nhân làng lụa trở thành vũ khí sắc bén nhất của làng trước nạn hàng giả, hàng nhái. Trong khi máy móc có thể bị đánh lừa bởi vẻ bề ngoài hào nhoáng, thì xúc giác của người thợ cả một đời gắn bó với nghề dệt lụa là thứ không thể sao chép.

Ông bức xúc khi nhắc đến những sản phẩm “giả hồn” đang trôi nổi trên thị trường: “Có những sản phẩm in hoa văn y hệt mẫu tôi vẽ, nhưng đó là in lên mặt vải chứ không phải dệt từ cốt vải. Người mua có thể bị nhầm lúc đầu, nhưng lụa thật thì dùng rồi sẽ biết. Sự gian dối ấy ảnh hưởng rất nhiều đến danh tiếng của làng”

Thời gian của lụa

Đối với câu chuyện bản quyền này, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc Nguyễn Văn Hùng chia sẻ, các hộ dệt lụa ở làng đều là những người chân chất, đã nhiều đời gắn bó với nghề. Người ta đã quen với việc dệt xong bán ra, chứ chưa từng nghĩ đến chuyện đi đăng ký bản quyền.

“Thế nhưng khi hàng giả, hàng nhái tràn lan trên thị trường, ảnh hưởng đến danh tiếng cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của làng, Hiệp hội chúng tôi phải vào cuộc. Chúng tôi đã tổng hợp những mẫu hoa văn đặc trưng, độc nhất vô nhị ở làng đem đi đăng ký bản quyền với Cục Sở hữu trí tuệ và duy trì công việc đó từ năm 2005 đến nay.

Tuy nhiên, các hộ dệt cũng phải chủ động giữ giá trị riêng của làng. Gần đây, Hiệp hội làng nghề đã thống nhất phương án dệt chữ ‘Lụa Hà Đông’ trên các mép vải để đánh dấu các sản phẩm bản quyền của làng”.

Thời gian của lụa

Thế nhưng, bức tranh về “người giữ lửa” không chỉ có gam màu sáng của sự tài hoa. Trong căn phòng đầy ắp máy móc và bản vẽ ấy, có một sự trống trải đến nao lòng: Sự vắng bóng của người kế cận.

Ông Hiển đã từng dốc hết tâm can để truyền nghề cho con trai cả. Ông dạy con từ cách cảm nhận độ đanh của sợi tơ khi trời nồm, độ giòn của sợi khi trời hanh, cho đến từng thuật toán thiết kế trên máy tính. Nhưng rồi, con ông chọn rời xa khung cửi để làm kinh doanh.

“Tôi không trách con, cũng không ép nó phải theo nghề. Nghề thiết kế hoa văn lụa này đòi hỏi sự tỉ mẩn đến khắc nghiệt và thu nhập thấp, không thể làm giàu nhanh. Lớp trẻ bây giờ năng động, họ không chịu được sự tĩnh lặng ấy,” ông Hiển thú nhận.

Ông kể, trong làng cũng từng có vài thanh niên tìm đến xin học vẽ mẫu, nhưng chỉ sau vài buổi, đối diện với hàng nghìn ô vuông rối rắm trên màn hình, họ đã bỏ cuộc.

Thời gian của lụa

Sự “cô độc” của ông Hiển phản ánh một nỗi đau đáu vĩ mô mà ông Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc Nguyễn Văn Hùng phải thừa nhận: Tỷ lệ lao động trẻ tại làng nghề đang giảm sút nghiêm trọng.

“Thú thực, việc giữ lửa nghề cho thế hệ trẻ ở làng Vạn Phúc hiện nay là một bài toán khiến chúng tôi đau đáu. Nghề dệt thủ công vốn vất vả, ‘ráo mồ hôi là hết tiền’, thu nhập khó mà so bì được với những công việc văn phòng hay doanh nghiệp bên ngoài. Nhìn các cháu học xong rồi thoát ly, rời làng đi làm kinh tế, người làm cha chú như chúng tôi không khỏi chạnh lòng.

Nhưng chúng tôi hiểu, muốn lớp trẻ quay về, muốn các cháu ham mê thì nghề lụa phải mang lại nhiều giá trị về mặt kinh tế. Không thể mãi chỉ cặm cụi dệt rồi bán từng mét lụa thô được. Chúng tôi đang nỗ lực đổi mới, từ miếng lụa phải biến thành chiếc áo dài, bộ vest, chiếc cà vạt hay túi xách thời thượng. Phải nâng tầm giá trị sản phẩm thì mới nâng cao được đời sống người thợ.

Với quy hoạch làng nghề vừa được TP Hà Nội phê duyệt cùng gói đầu tư 1.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2025 – 2030, tôi có một niềm tin mãnh liệt: Nghề lụa Vạn Phúc sẽ không chỉ được duy trì mà còn cất cánh. Khi ấy, những người trẻ sẽ lại tự hào quay về, cùng thế hệ cha anh viết tiếp câu chuyện của làng lụa ngàn năm”.

Thời gian của lụa

Càng về chiều, dòng người đổ về phố lụa Vạn Phúc chụp ảnh check-in càng đông. Tiếng nhạc xuân, tiếng mời chào mua hàng náo nhiệt khắp làng.

Nhưng chỉ cách đó vài bước chân, sau cánh cửa gỗ khép hờ, có một thế giới khác hoàn toàn tĩnh lặng. Ở đó, nghệ nhân Đỗ Văn Hiển vẫn đang tỉ mẩn chỉnh sửa từng đường cong cho họa tiết đám mây cổ, dường như quên hẳn sự huyên náo ngoài kia.

Người nghệ nhân giống như một nốt trầm cần thiết trong bản nhạc sôi động và có phần xô bồ của kinh tế thị trường. Làng nghề thủ công muốn đi xa, cần những người bán hàng giỏi, người làm du lịch nhanh nhạy, nhưng chắc chắn không thể thiếu những người thợ dùng cả đời mình để giữ lấy cái “gốc” của làng.

Vạn Phúc,lúa,thủ công,truyền thông#Thời #gian #của #lụa1772896604

Xem các tin khác:

Nhà 3 đến 5 tỷDanh sách nhà Hot 5-8 tỷ
NHÀ MẶT TIỀNNHÀ TỪ 8 ĐẾN 12 TỶ