Chuyên gia Công nghệ phải giúp doanh nghiệp làm được nhiều hơn chi phí thấp hơn

GS.TS Võ Hồng Cường cho rằng doanh nghiệp không nên chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ gì, mà cần đánh giá cụ thể công nghệ đó giúp tăng năng suất, giảm chi phí và tạo ra năng lực cạnh tranh như thế nào?

Chuyên gia: Công nghệ phải giúp doanh nghiệp làm được nhiều hơn, chi phí thấp hơn
Toàn cảnh phiên thảo luận. Ảnh: Thu Trang/Mekong ASEAN

Tại phiên thảo luận trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh doanh 2026 với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới” tổ chức chiều 14/8, các chuyên gia tập trung phân tích tiềm năng của kinh tế số Việt Nam, những điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế, nguồn lực và năng lực doanh nghiệp, đồng thời đề xuất cách thức chuyển các chủ trương về kinh tế số thành giá trị cụ thể.

Kinh tế số mở rộng nhanh, dư địa còn lớn

Theo ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, việc số hóa sản phẩm cũng là một hướng để mở rộng kinh tế số sang nhiều ngành khác nhau.

Theo số liệu từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới, quy mô kinh tế số ASEAN đã tăng qua các giai đoạn 2019, 2022 và 2025, đạt tổng doanh thu trên 300 tỷ USD vào năm 2025.

Diễn đàn Kinh tế Thế giới và BCG dự tính quy mô kinh tế số ASEAN trong điều kiện bình thường có thể đạt 1.000 tỷ USD vào năm 2030. Với việc chuẩn bị thông qua Hiệp ước Kinh tế số ASEAN (DEFA), quy mô này được dự báo có thể lên tới 2.000 tỷ USD.

Theo báo cáo Digital 2026 về Việt Nam được ông Cương dẫn, mức độ sử dụng Internet, mạng xã hội và điện thoại di động tại Việt Nam đều ở mức cao so với khu vực Đông Nam Á. Số thuê bao điện thoại di động trên tổng dân số tại Việt Nam đạt 134%, so với khoảng 121% của khu vực.

Các hoạt động sử dụng Internet phổ biến gồm mạng xã hội, video trực tuyến, nhạc trực tuyến và trò chơi điện tử. Với dân số khoảng 102 triệu người, Việt Nam hiện có khoảng 85,6 triệu người sử dụng Internet và tỷ lệ này tiếp tục tăng.

Trong thương mại điện tử, thời trang là nhóm hàng có doanh số lớn nhất, đạt khoảng 2,91 tỷ USD năm 2025. Tiếp đến là thực phẩm và hàng điện tử. Nhóm thuốc lá và các sản phẩm liên quan thuốc lá đứng thứ tư, sau đó là đồ uống.

Năm 2025, khoảng 24,3 triệu người Việt Nam đã mua hàng trực tuyến, tương đương gần 1/4 dân số. Tổng giá trị mua bán trực tuyến của người tiêu dùng đạt khoảng 13,8 tỷ USD, tăng 13,8%.

Các nền tảng số và mạng xã hội cũng có mức độ phổ biến cao. Zalo có gần 80% người sử dụng, tương đương 78,3 triệu người; Facebook có 79 triệu người; Messenger 58 triệu người; YouTube 62 triệu người; TikTok 76 triệu người và Viber khoảng 30-40 triệu người.

Theo báo cáo e-Conomy 2025 của Google, Temasek và Bain, tổng quy mô kinh tế số Việt Nam đạt 39 tỷ USD. Các lĩnh vực thương mại điện tử, vận tải, đồ ăn, du lịch trực tuyến và nội dung số đều tăng trưởng hai chữ số.

“Việt Nam đang dẫn đầu Đông Nam Á về các chỉ số sẵn sàng ứng dụng AI. Trên 80% người dùng tương tác với AI hằng ngày và 96% bày tỏ mức độ tin tưởng cao đối với câu trả lời do AI cung cấp. Tuy nhiên, mức độ chấp nhận cao cũng kéo theo những vấn đề cần lưu ý, chẳng hạn việc sử dụng AI để tra đơn thuốc hoặc thay thế bác sĩ,” ông Cương chia sẻ.

Tăng trưởng kinh tế số chưa đồng nghĩa với tăng năng suất

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, GS.TS Võ Hồng Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cho rằng cần nhìn vào giá trị thực mà kinh tế số tạo ra cho doanh nghiệp và nền kinh tế, thay vì chỉ quan tâm đến tốc độ tăng trưởng hay mức độ ứng dụng công nghệ.

Theo ông, chuyển đổi số hay ứng dụng công nghệ số chỉ là phương tiện, không phải mục tiêu. Mục tiêu của kinh tế số là nâng cao năng suất, tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị hơn, mở rộng thị trường và tăng năng lực cạnh tranh.

GS.TS Võ Hồng Cường nhận định tốc độ tăng trưởng kinh tế số của Việt Nam đang rất lớn, nhưng chưa thể khẳng định tương ứng với mức tăng về năng suất và năng lực của doanh nghiệp. Ông dẫn ví dụ từ hoạt động bán hàng trực tuyến, khi cho rằng phần giá trị doanh nghiệp Việt Nam được hưởng có thể chỉ khoảng 5%, trong khi 95% thuộc về nước ngoài. Khi đó, năng lực của doanh nghiệp trong nước chưa thực sự được nâng lên, mà về bản chất vẫn là hoạt động kinh tế truyền thống với những người giao hàng vận chuyển hàng hóa.

“Vì vậy, doanh nghiệp tham gia kinh tế số cần xem xét công nghệ giúp tăng năng suất như thế nào và giảm chi phí ra sao. Thay vì chỉ nói doanh nghiệp đang ứng dụng công nghệ gì, cần xác định công nghệ đó tạo ra năng lực cạnh tranh như thế nào?”, ông Cường nhận định.

Theo đại diện Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cũng không nên chỉ nhìn vào tỷ trọng kinh tế số trong GDP để đánh giá mức độ phát triển, mà cần xem xét bao nhiêu phần trăm giá trị tạo ra được giữ lại cho doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam.

Từ góc độ hạ tầng, ông Cường cho rằng nền tảng số có thể hoạt động rất nhanh, thanh toán có thể hoàn tất trong nửa giây, nhưng nếu logistics và vận chuyển hàng hóa chưa được cải thiện thì tốc độ tổng thể của nền kinh tế vẫn không thể tăng tương ứng.

Theo ông, kinh tế số chỉ có thể cải thiện một phần trong chuỗi giá trị, từ khâu người bán đặt mua hàng đến thanh toán và xử lý giao dịch. Nếu hạ tầng cứng, đặc biệt là logistics và vận chuyển hàng hóa, không được cải thiện, hiệu quả tổng thể của nền kinh tế số vẫn bị giới hạn.

Một điểm nghẽn khác, theo GS.TS Võ Hồng Cường, là chênh lệch giữa chi phí ứng dụng công nghệ và hiệu quả mang lại chưa tương xứng, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

“Một vấn đề khác là mức độ hấp thụ công nghệ còn hạn chế. Doanh nghiệp có thể trang bị phần mềm nhưng phương thức quản trị và ra quyết định vẫn theo quy trình cũ. Tương tự, việc trang bị AI nhưng dữ liệu không có hoặc không được chia sẻ sẽ không mang lại nhiều ý nghĩa”, ông Cường chia sẻ.

Bên cạnh đó, khả năng kết nối giữa các hệ thống cũng là một điểm nghẽn. Theo ông Cường, một doanh nghiệp có thể đẩy mạnh chuyển đổi số nhưng nếu các hệ thống dịch vụ liên quan như ngân hàng, nộp thuế chưa đồng bộ thì vẫn phải thực hiện tờ khai giấy. Thậm chí, doanh nghiệp đã sử dụng hóa đơn điện tử vẫn phải trả tiền cho công ty dịch vụ.

Theo GS.TS Võ Hồng Cường, hạ tầng dùng chung cũng là vấn đề cần được quan tâm. Nếu thiếu hạ tầng dùng chung, mỗi doanh nghiệp sẽ phải tự đầu tư một hệ thống riêng, qua đó làm gia tăng chi phí và dẫn tới lãng phí nguồn lực.

Thể chế cần được thiết kế theo tư duy số

Cùng chung nhận định, ông Nguyễn Hoa Cương cho rằng Việt Nam đã có những chủ trương lớn để thúc đẩy kinh tế số. Tuy nhiên, với những vấn đề cụ thể như tài sản số, mở dữ liệu hay AI, hệ thống quy định vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện để có thể triển khai trên thực tế.

Theo ông, một vấn đề cần được làm rõ là hiệu quả thực tế của việc ứng dụng AI. Công nghệ này có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong nhiều công việc như soạn thảo văn bản, đọc tài liệu hay làm video, nhưng mức độ cải thiện hiệu suất kinh doanh cụ thể bao nhiêu phần trăm vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng.

Bên cạnh đó, ông Cương chỉ ra khoảng cách giữa chính sách được thiết kế và quá trình thực thi. Có những doanh nghiệp dù được hưởng chính sách hỗ trợ nhưng vẫn lựa chọn từ chối bởi chi phí, khó khăn và những trở ngại phải vượt qua để tiếp cận chính sách còn lớn hơn giá trị hỗ trợ mà doanh nghiệp nhận được.

Chuyên gia: Công nghệ phải giúp doanh nghiệp làm được nhiều hơn, chi phí thấp hơn

ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương chia sẻ tại diễn đàn. Ảnh: Thu Trang/Mekong ASEAN

Ở cấp độ doanh nghiệp, quy mô và năng lực vẫn là những hạn chế đáng lưu ý, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn còn yếu về vốn, lao động, công nghệ và quản lý. Theo ông Cương, tiếp cận tài chính luôn là một khó khăn khi khoảng 70-75% doanh nghiệp gặp vấn đề này.

Bài toán nhân lực cũng tồn tại ở cả hai chiều, khi thị trường vừa thừa về số lượng nhưng lại thiếu những lao động có đủ kỹ năng.

Ông Cương cũng cho rằng doanh nghiệp Việt Nam vẫn có xu hướng gia công và đặt vấn đề cần chuyển mạnh hơn sang hoạt động thiết kế, sáng tạo để tạo ra giá trị cao hơn.

Theo ông, quá trình phát triển kinh tế số cũng cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa với yêu cầu về môi trường sinh thái bền vững. Các nhóm chính sách cần tiếp tục được cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành đầy đủ, đồng thời cơ quan và tổ chức thực thi cần có tâm thế sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp.

Ở góc độ thể chế, ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế Quốc hội, cho rằng có ba vấn đề phổ biến cần được nhìn nhận khi xây dựng chính sách cho kinh tế số.

Thứ nhất là cách ứng xử với công nghệ mới. Theo ông Hiếu, pháp luật không nên đặt ra quy định chỉ vì một công nghệ hay mô hình kinh doanh mới xuất hiện, mà chỉ nên can thiệp khi công nghệ hoặc mô hình đó có khả năng gây ra rủi ro đáng kể mà các quy định hiện hành chưa thể kiểm soát.

Ông Hiếu cho biết đã góp ý Điều 21 dự thảo Luật Khoa học công nghệ theo hướng không phải mọi mô hình kinh doanh mới đều cần áp dụng Sandbox, mà cơ chế này chỉ nên dành cho những mô hình có khả năng cao gây rủi ro.

Thứ hai là tình trạng số hóa một quy trình truyền thống. Theo ông, cần thiết kế thủ tục ngay từ đầu theo tư duy số, thay vì chỉ chuyển quy trình giấy tờ sang môi trường điện tử nhưng vẫn yêu cầu doanh nghiệp mang hồ sơ đến nộp, thậm chí phải tồn tại song song giấy tờ số và các loại giấy tờ khác.

Ông Hiếu cho rằng cần xây dựng một quy trình mới trên nền tảng tư duy số. Khi dữ liệu đã được số hóa, các cơ quan cần có khả năng kết nối trực tiếp với nhau, thay vì lấy bản giấy tờ số để lưu vào máy tính rồi tiếp tục lập một bộ hồ sơ điện tử, gây thêm thời gian và thủ tục.

Thứ ba, ông Hiếu cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận đối với AI. Thay vì tập trung vào việc AI được chế tạo như thế nào, điều quan trọng hơn là xác định công nghệ này tạo ra bao nhiêu giá trị và xây dựng được cách thức đo lường cụ thể đối với giá trị đó.

Kinh tế số,công nghệ,DOANH NGHIỆP VIỆT,công nghệ số,tăng trưởng kinh tế,Năng suất lao động,thương mại điện tử,chính sách số#Chuyên #gia #Công #nghệ #phải #giúp #doanh #nghiệp #làm #được #nhiều #hơn #chi #phí #thấp #hơn1786733743

Xem các tin khác:

Nhà 3 đến 5 tỷDanh sách nhà Hot 5-8 tỷ
NHÀ MẶT TIỀNNHÀ TỪ 8 ĐẾN 12 TỶ