Khi dư nợ tín dụng ngày càng tăng, tạo áp lực lớn lên hệ thống tài chính, việc mở rộng các kênh vốn dài hạn cho khu vực tư nhân trở thành yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp vượt qua khoảng trống tài chính và tăng tốc trong giai đoạn phát triển mới.
![]() |
| Hội thảo “Kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Ảnh: Thảo Ngân – Mekong ASEAN. |
Nguồn vốn vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng
Phát biểu tại hội thảo “Kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” sáng 6/5, ông Nguyễn Đức Thông, Tổng giám đốc CTCP Chứng khoán SSI cho biết khu vực kinh tế tư nhân hiện chiếm 97% tổng số doanh nghiệp, đóng góp khoảng 50 – 55% GDP và tạo ra 84 – 85% việc làm. Tuy nhiên, đây lại là khu vực đang thiếu hụt nguồn lực tài chính lớn nhất.
Theo ông Thông, nhu cầu vốn của doanh nghiệp tại Việt Nam hiện còn thiếu hụt rất lớn. Phần vốn chưa được đáp ứng tương đương khoảng 21% GDP và chiếm tới 75% tổng nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
Ông cũng cho biết tỷ lệ dư nợ tín dụng trên GDP của Việt Nam dự báo đạt 146% vào năm 2025, thuộc nhóm cao nhất khu vực, chỉ sau Trung Quốc và Hàn Quốc. Trong khi đó, vốn từ thị trường cổ phiếu và trái phiếu, mới chỉ chiếm khoảng 15 – 20% tổng cung vốn cho nền kinh tế.
![]() |
| Báo cáo dư nợ tín dụng ngân hàng của SSI. |
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), khả năng tiếp cận vốn còn hạn chế hơn khi dư nợ của nhóm này chiếm chưa tới 20% tổng dư nợ toàn hệ thống, dù khu vực này tạo ra hơn một nửa GDP.
“Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng, công nghệ cao và chuyển đổi xanh ngày càng lớn, việc tiếp tục phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng như trụ cột duy nhất là không bền vững,” ông Thông đánh giá tại Hội thảo do Tạp chí Kinh tế Chứng khoán Việt Nam tổ chức.
Sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng cũng tạo ra mất cân đối kỳ hạn, khi khoảng 80% vốn huy động ngắn hạn đang được sử dụng cho vay trung và dài hạn, vốn chiếm khoảng 50% tổng dư nợ, ông Thông thông tin thêm
Đồng quan điểm, ông Trần Hoài Nam, Phó Tổng giám đốc Thường trực Ngân hàng TMCP phát triển TP HCM (HDBank) cho rằng nhu cầu đầu tư dài hạn của nền kinh tế ngày càng lớn, nên không thể chỉ dựa vào ngân hàng.
Theo ông, tư duy điều hành đang dần chuyển theo hướng phân bổ lại vai trò giữa các cấu phần tài chính, thúc đẩy thị trường vốn phát triển để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Khơi thông thị trường vốn để giảm lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng
Để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, các chuyên gia cho rằng cần phát triển đồng bộ các kênh huy động vốn như thị trường chứng khoán, trái phiếu và các định chế tài chính trung gian.
Theo các chuyên gia, vấn đề hiện nay không phải thiếu kênh dẫn vốn mà là các kênh này chưa vận hành như một hệ thống liên thông. Khi dòng vốn còn phân mảnh, khu vực kinh tế tư nhân khó có được nguồn lực đủ lớn để tăng tốc phát triển.
Ông Nguyễn Đức Thông cho biết, quy mô thị trường vốn Việt Nam đã tăng mạnh trong những năm gần đây, song chưa thực sự trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả cho doanh nghiệp tư nhân.
Hiện vốn hóa thị trường cổ phiếu tương đương khoảng 78% GDP, tăng mạnh so với mức 26% năm 2015. Tuy nhiên, số doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch mới chỉ đạt khoảng 1.600 doanh nghiệp, chưa tới 1% trong tổng số hơn một triệu doanh nghiệp đang hoạt động.
Theo ông Thông, cơ cấu thị trường chứng khoán hiện vẫn tập trung chủ yếu vào nhóm tài chính và bất động sản, trong khi các lĩnh vực sản xuất và công nghệ còn chiếm tỷ trọng thấp.
Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Thông cho rằng thị trường đang gặp ba điểm nghẽn lớn gồm niềm tin nhà đầu tư suy giảm, thiếu các quỹ đầu tư trái phiếu chuyên nghiệp và thủ tục phát hành còn phức tạp. Sau các biến động giai đoạn 2022 – 2023, thị trường không chỉ thiếu niềm tin mà còn tồn tại nhiều rào cản cần được tháo gỡ.
Theo ông, để khơi thông dòng vốn, doanh nghiệp cần nâng cao tính minh bạch tài chính, đồng thời hoàn thiện cơ chế công bố thông tin và tăng hiểu biết của nhà đầu tư về rủi ro trái phiếu.
Trong khi đó, ông Trần Hoài Nam cho rằng trái phiếu là nguồn vốn trung và dài hạn quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh tín dụng ngân hàng chịu áp lực về giới hạn tăng trưởng.
Ông Nam đề xuất nới điều kiện đối với “nhà đầu tư chuyên nghiệp” để mở rộng lực cầu trên thị trường, đồng thời thúc đẩy kênh trái phiếu quốc tế nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý hơn.
Doanh nghiệp tìm thêm “mạch vốn” ngoài ngân hàng
Chia sẻ kinh nghiệm tìm kiếm nguồn lực mới, ông Mai Danh Hiền, Phó Chủ tịch HĐQT Công ty tài chính tổng hợp cổ phần EVF cho biết, doanh nghiệp này đã sớm tiếp cận các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường vốn quốc tế. Với 20% vốn đến từ nhà đầu tư nước ngoài, EVF là đơn vị tiên phong phát hành trái phiếu xanh tại Việt Nam trong bối cảnh các tiêu chuẩn và khung pháp lý cho lĩnh vực này còn chưa hoàn thiện.
Theo ông Hiền, doanh nghiệp khi tiếp cận nguồn vốn xanh buộc phải chủ động tìm hiểu, làm việc với các chuyên gia và quỹ đầu tư quốc tế để xây dựng bộ tiêu chuẩn phù hợp. Từ thực tế đó, ông cho rằng vốn xanh không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để doanh nghiệp nâng chuẩn quản trị và tái định vị năng lực phát triển.
Ông Nguyễn Phúc Long, Chủ tịch HĐQT CTCP Đầu tư Thăng Long (TIG) nhận định, nguồn vốn ngân hàng thời gian tới có thể chỉ đáp ứng khoảng 20 – 30% tổng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Điều này buộc doanh nghiệp phải tìm thêm các nguồn lực tài chính dài hạn và bền vững hơn.
Theo ông Long, ngoài thị trường chứng khoán, Việt Nam cần chú trọng khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi trong dân và mở rộng khả năng thu hút dòng vốn quốc tế cho các dự án hạ tầng quy mô lớn.
“Với tổng mức đầu tư rất lớn hiện nay, nguồn lực nội tại là không đủ. Chúng ta cần các sản phẩm tài chính đặc thù để thu hút dòng vốn ngoại,” ông Long nói.
Lãnh đạo TIG cũng đề xuất Việt Nam nên nghiên cứu các cơ chế cho phép nhà đầu tư nước ngoài sở hữu bất động sản gắn với chính sách “thẻ xanh” hoặc định cư. Theo ông, đây là mô hình đã được nhiều quốc gia áp dụng để thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư tư nhân quốc tế.
![]() |
| Phiên thảo luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt. Ảnh: Thảo Ngân – Mekong ASEAN. |
Nâng năng lực nội tại để đón dòng vốn
Các chuyên gia cho rằng trước khi thu hút dòng vốn, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình. Dù trong hay ngoài nước, nguồn vốn sẽ không tìm đến những doanh nghiệp thiếu năng lực quản trị và khả năng thích ứng.
TS. Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Việt Nam nhấn mạnh doanh nghiệp không thể thụ động chờ dòng vốn hay chuỗi cung ứng toàn cầu tìm đến, mà phải chủ động nâng chuẩn quản trị, công nghệ và năng lực vận hành để tăng sức cạnh tranh.
Từ kinh nghiệm thực tế, ông Mai Danh Hiền chia sẻ, để tiếp cận nguồn vốn quốc tế, doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn minh bạch và quản trị khắt khe. Theo ông, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở khả năng thích ứng của đội ngũ nhân sự trước biến động thị trường.
Trong khi đó, ông Nguyễn Phúc Long cho rằng nhiều doanh nghiệp Việt vẫn có quy mô nhỏ, năng lực thực thi hạn chế nên cần đẩy mạnh liên doanh, liên kết với đối tác nước ngoài để tiếp nhận công nghệ, kinh nghiệm quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Vốn,Doanh nghiệp,KINH TẾ TƯ NHÂN,nguồn vốn doanh nghiệp,tín dụng ngân hàng,thị trường vốn Việt Nam,TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP,thị trường chứng khoán,Nguyễn Đức Thông,HDBank,doanh nghiệp tư nhân Việt Nam,vốn dài hạn,trái phiếu xanh,EVF,TIG,SSI,KHƠI THÔNG DÒ#Doanh #nghiệp #tư #nhân #tìm #thêm #mạch #vốn #ngoài #ngân #hàng1778095002













