Tháng 3/2026, chăn nuôi tiếp tục xu hướng phục hồi, trong khi khai thác thủy sản giảm do giá dầu tăng cao làm ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác.
Gieo trồng lúa giảm, năng suất tăng
Theo báo cáo kinh tế – xã hội quý 1/2026 của Cục Thống kê, tính đến ngày 20/3/2026, cả nước gieo cấy được 2,91 triệu ha lúa đông xuân, giảm 37.300 ha so với vụ đông xuân năm 2025. Trong đó, các địa phương phía Bắc đạt 1,02 triệu ha, giảm 13.400 ha so với vụ đông xuân năm trước; phía Nam đạt 1,89 triệu ha, giảm 23.900 ha, riêng vùng ĐBSCL đạt 1,24 triệu ha, giảm 24.800 ha.
Diện tích gieo trồng lúa đông xuân giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do các địa phương thực hiện chuyển đổi diện tích đất trồng lúa không hiệu quả sang trồng cây hằng năm, cây lâu năm, nuôi thủy sản có giá trị kinh tế cao hơn hoặc phục vụ xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp.
Một số địa phương có diện tích lúa đông xuân giảm nhiều như Cần Thơ giảm 14.800 ha; Đồng Tháp giảm 6.200 ha; Bắc Ninh giảm 3.100 ha; An Giang giảm 3.000 ha; Hà Nội giảm gần 1.400 ha; Hưng Yên giảm 1.300 ha; Tuyên Quang giảm 900 ha; Phú Thọ giảm 500 ha.
Đến nay, các địa phương phía Nam cơ bản hoàn thành gieo cấy lúa đông xuân, trong đó vùng ĐBSCL thu hoạch được 466.800 ha lúa đông xuân sớm, chiếm 37,6% diện tích xuống giống và giảm 28.400 ha so với cùng kỳ năm trước do các địa phương thay đổi lịch xuống giống để chủ động nguồn nước nên tiến độ thu hoạch chậm hơn.
Năng suất toàn vùng ước đạt 73,5 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha so với vụ lúa đông xuân 2025; sản lượng ước đạt 9,1 triệu tấn, giảm 99.300 tấn do diện tích giảm.
Về lúa mùa, kết thúc vụ lúa mùa năm 2025 – 2026, vùng ĐBSCL gieo trồng được 182.300 ha, giảm 9.400 ha so với vụ lúa mùa năm trước, chủ yếu do các địa phương chuyển 6.900 ha lúa sang nuôi trồng thủy sản; 400 ha cây hằng năm khác và khoảng 2.200 ha bỏ trống không cấy do hiệu quả thấp.
Năng suất lúa mùa toàn vùng ước đạt 53,5 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha so với vụ mùa trước do thời tiết thuận lợi, ít sâu bệnh, chủ động được nguồn nước, áp dụng các giống lúa chất lượng cao có khả năng chịu mặn tốt để sản xuất, góp phần nâng cao năng suất. Sản lượng lúa mùa ước đạt 975.300 tấn, giảm 34.500 tấn do diện tích giảm.
![]() |
| Ảnh minh họa. Nguồn: Lê Hồng Nhung – Mekong ASEAN |
Thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”, vụ đông xuân năm 2026, toàn vùng gieo cấy được 368.100 ha lúa chất lượng cao, chiếm 29,7% tổng diện tích gieo trồng, tăng 3,7% so với năm 2025. Với mô hình sản xuất này, chi phí giảm từ 15 – 21% so với tập quán cũ; lợi nhuận bình quân khoảng 29,6 triệu đồng/ha, cao hơn 4,7 triệu đồng/ha so với canh tác truyền thống.
Về giá lúa trong nước, giá thu mua thóc khô quý 1/2026 tại vùng ĐBSCL có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước (YoY). Trong đó, giá lúa khô tại An Giang giảm 3,7%; Cà Mau giảm 4,2%; Cần Thơ giảm 4,4%; Đồng Tháp và Vĩnh Long đều giảm 7,8%.
Nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung gạo toàn cầu dần được khôi phục, đặc biệt từ các quốc gia xuất khẩu gạo lớn như Ấn Độ, Thái Lan khiến mặt bằng giá gạo nhanh chóng giảm sau thời kỳ tăng cao năm 2025. Mặt khác, thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam đang chịu nhiều biến động do xung đột quân sự tại Trung Đông làm ảnh hưởng tới chi phí vận tải, thời gian giao hàng và rủi ro thương mại gia tăng.
Sản lượng sầu riêng tăng hơn 15%
Tính đến 20/3/2026, tiến độ gieo trồng một số cây vụ đông xuân như đậu tương, rau các loại tăng so với cùng kỳ năm trước; diện tích ngô, lạc giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao.
Về cây lâu năm, sản lượng quý 1/2026 đạt khá, giá các loại nông sản chủ lực duy trì ở mức cao khuyến khích người dân mở rộng quy mô trồng và đầu tư chăm sóc. Bên cạnh đó, công tác quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu được quan tâm triển khai.
Đến nay Việt Nam có 9.357 mã số vùng trồng và 1.381 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu cho các loại quả tươi (thanh long, xoài, vú sữa, chuối, bưởi, chanh leo, chanh không hạt, nhãn, vải, ớt, thạch đen…) được phép xuất khẩu sang các thị trường như Trung Quốc, Mỹ, Australia, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Sản lượng một số cây ăn quả chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước như sầu riêng đạt 212.900 tấn, tăng 15% YoY; mít đạt 199.900 tấn, tăng 12,8% YoY; bưởi đạt 175.500 tấn, tăng 5,8% YoY; chuối đạt 835.700 tấn, tăng 5,3% YoY; thanh long đạt 341.300 tấn, tăng 3,1% YoY; xoài đạt 207.600 tấn, tăng 1,8% YoY; cam đạt 333.200 tấn, tăng 1,2% YoY.
Trong những tháng đầu năm, nhờ thời tiết thuận lợi, cùng với áp dụng hiệu quả các biện pháp khoa học kỹ thuật, tăng cường đầu tư chăm sóc nên sản lượng thu hoạch một số cây công nghiệp lâu năm quý 1/2026 tăng so với cùng kỳ năm trước như dừa đạt 593.800 tấn, tăng 6% YoY; điều đạt 208.700 tấn, tăng 5,4% YoY; hồ tiêu đạt 154.800 tấn, tăng 5,3% YoY; chè búp đạt 187.700 tấn, tăng 4,2% YoY; cao su đạt 135.500 tấn, tăng 0,4% YoY.
Khai thác thủy sản giảm trong tháng 3/2026
Sản lượng thủy sản tháng 3/2026 ước đạt 780.700 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 495.400 tấn, tăng 6,1% YoY; khai thác giảm 2,7% YoY, đạt 285.300 tấn, chủ yếu do giá dầu tăng cao làm ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác.
Về nuôi trồng, tháng 3/2026, sản lượng cá tra ước đạt 192.600 tấn, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước, do giá cá tra nguyên liệu tăng và nhu cầu tiêu dùng cá tra tại Mỹ và EU tăng do nguồn cung cá thịt trắng toàn cầu giảm mạnh.
Sản lượng tôm thẻ chân trắng trong tháng ước đạt 50.000 tấn, tăng 9,2% YoY; tôm sú đạt 19.200 tấn, tăng 3,8% YoY. Sản lượng tôm thẻ chân trắng trong tháng tăng cao do diện tích thả nuôi đến kỳ thu hoạch, cùng với đó việc áp dụng các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều địa phương có diện tích thu hoạch tôm thẻ chân trắng tăng cao như Tây Ninh tăng 29% YoY; Cà Mau tăng 14% YoY; Cần Thơ tăng 8% YoY.
Tính chung quý 1/2026, sản lượng thủy sản ước đạt 2,18 triệu tấn, tăng 3,2% YoY. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1,29 triệu tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 887.200 tấn, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước.
Chăn nuôi lợn tiếp tục xu hướng phục hồi
Chăn nuôi trâu, bò quý 1/2026 tiếp tục gặp khó khăn do diện tích đất dành cho chăn nuôi đang dần thu hẹp, hiệu quả không cao, nhiều địa phương giảm quy mô đàn. Ngoài ra, việc tái đàn trâu, bò sau đợt mưa lũ lớn cuối năm 2025 ở các tỉnh miền Trung cũng bị ảnh hưởng.
Một số địa phương có số lượng đàn trâu giảm so với cùng thời điểm năm trước như Phú Thọ giảm 4,8%; Tuyên Quang giảm 3,4%; Điện Biên giảm 0,8%; Lào Cai giảm 0,5%; Nghệ An giảm 0,4%. Tổng đàn bò ở Đăk Lăk giảm 6,9%; Phú Thọ giảm 2,5%; Quảng Ngãi và Sơn La cùng giảm 2,4%.
Chăn nuôi lợn tiếp tục xu hướng phục hồi, phát triển ổn định nhờ giá thịt lợn ở mức có lợi, cùng với dịch bệnh được kiểm soát đã khuyến khích người nuôi yên tâm, chủ động tái đàn. Một số địa phương có số lượng đầu con duy trì mức tăng trưởng cao so với cùng thời điểm năm trước như Gia Lai tăng 8%; Lâm Đồng tăng 7,5%; Đồng Nai và Phú Thọ cùng tăng 3,2%; TP HCM tăng 3,1%.
Tuy nhiên, người chăn nuôi vẫn cần theo dõi sát diễn biến thị trường, các cơ quan chức năng cần cung cấp thông tin kịp thời, kiểm soát tình hình chăn nuôi tại địa phương, thực hiện tốt quy định không cho phép chăn nuôi trong khu vực nội thành và khu dân cư để bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường.
Tính đến ngày 30/3/2026, cả nước không còn dịch tai xanh và dịch lở mồm long móng; dịch cúm gia cầm còn ở Nghệ An, Đà Nẵng; dịch viêm da nổi cục còn ở Đà Nẵng, Quảng Ngãi và dịch tả lợn châu Phi còn ở 21 địa phương chưa qua 21 ngày.
Giá gỗ nguyên liệu ổn định, sản lượng khai thác tăng ở nhiều địa phương
Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước tháng 3/2026 ước đạt 23.900 ha, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 8,9 triệu cây, tăng 2,9% YoY. Sản lượng gỗ khai thác đạt 1,68 triệu m3, tăng 4,1% do giá gỗ nguyên liệu duy trì ổn định, thời tiết thuận lợi nên người dân ở nhiều địa phương đẩy nhanh tiến độ khai thác như Quảng Trị tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2025, Lạng Sơn tăng 12,5%; Cà Mau tăng 7,3%; Huế và Phú Thọ cùng tăng 6,9%; Đà Nẵng tăng 6,8%.
Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng 3/2026 là 9,4 ha, giảm 86,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó rừng bị chặt, phá là 9,3 ha, giảm 76,5%; diện tích rừng bị cháy là 0,1 ha, giảm 99,7%.
Quý 1/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 45.600 ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 19 triệu cây, giảm 1,5%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 4,33 triệu m3, tăng 2,6%.
Diện tích rừng bị thiệt hại là 57,8 ha, giảm 73,2% so với cùng kỳ, trong đó rừng bị chặt, phá là 56,9 ha, giảm 66% YoY; rừng bị cháy là 0,9 ha, giảm 98,1%.
Nông nghiệp,việt nam,quý 1/2026,sản xuất nông nghiệp,sản xuất nông nghiệp quý 1/2026,báo cáo kinh tế xã hội quý 1/2026,chăn nuôi,thủy sản,lúa, khai thác thủy sản giảm, tác động từ cuộc xung đột trung đông#Khai #thác #thủy #sản #giảm #chăn #nuôi #tiếp #tục #tăng #trưởng1775371290











