UOB: Lãi suất huy động 10% chưa phản ánh mặt bằng chung


Mức lãi suất huy động 10% xuất hiện trên thị trường chưa mang tính đại diện cho toàn hệ thống. Trong khi đó, nhu cầu vốn của doanh nghiệp vẫn cao và tăng trưởng tín dụng cả năm có thể đạt 15–16%.

Tại Buổi Đối thoại cùng Chuyên gia Kinh tế UOB ngày 18/9, ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam, cho rằng cần thận trọng khi sử dụng mức lãi suất huy động cao nhất trên thị trường để đánh giá mặt bằng chung.

Gần đây, một số mức huy động khoảng 10% xuất hiện trên thị trường. Tuy nhiên, đây thường là mức áp dụng cho những nhóm khách hàng, kỳ hạn hoặc sản phẩm cụ thể và có thể đi kèm các điều kiện khác.

“Mức lãi suất huy động 10% chưa phải là một mức lãi suất nền tảng và tham chiếu hiện nay”, ông Quang nói.

Mỗi ngân hàng có cơ cấu nguồn vốn, danh mục cho vay và chiến lược kinh doanh khác nhau. Vì vậy, lãi suất huy động có thể chênh lệch đáng kể giữa từng nhóm ngân hàng và từng loại khách hàng.

Trong một số trường hợp, để hưởng mức lãi suất cao, khách hàng còn phải đáp ứng thêm điều kiện hoặc sử dụng nhiều sản phẩm của ngân hàng. Điều này khiến mức niêm yết cao nhất chưa chắc phản ánh chi phí vốn thực tế mà ngân hàng phải chịu trên toàn bộ nguồn huy động.

Tại các ngân hàng có cơ cấu nguồn vốn ổn định, chi phí vốn bình quân sau khi tính chung nhiều kỳ hạn và sản phẩm hiện phổ biến khoảng 6–7%.

UOB: Lãi suất huy động 10% chưa phản ánh mặt bằng chung插图

Dự báo lãi suất và thị trường tài chính của UOB. (Nguồn: UOB).

Với mức này, lãi suất cho vay tài trợ thương mại vào khoảng 7–8%. Riêng tại UOB, khách hàng doanh nghiệp vay phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu phổ biến ở mức 7,5–8%.

Khoảng cách này cũng cho thấy nếu lấy một vài mức huy động cao để suy rộng cho toàn hệ thống thì có thể tạo ra hình dung chưa đầy đủ về mặt bằng vốn.

Chi phí vốn thực tế của ngân hàng phụ thuộc vào cơ cấu tiền gửi, kỳ hạn, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn, chiến lược thanh khoản và khả năng tiếp cận các nguồn vốn khác. Vì vậy, mặt bằng huy động cần được nhìn ở mức bình quân thay vì chỉ tập trung vào mức cao nhất đang xuất hiện.

Chi phí vay phân hóa theo sức khỏe doanh nghiệp

Ở chiều cho vay, chi phí vốn thực tế cũng khác nhau đáng kể giữa các doanh nghiệp.

Các khoản vay phục vụ sản xuất, thương mại của doanh nghiệp có nền tảng tài chính tốt thường có chi phí thấp hơn. Ngược lại, những khoản vay hoặc lĩnh vực được đánh giá rủi ro cao có thể chịu lãi suất 11–12%, thậm chí cao hơn.

“Sức khỏe và chất lượng của doanh nghiệp là yếu tố quyết định họ sẽ tiếp cận chi phí vốn vay như thế nào”, ông Quang nhận định.

Doanh nghiệp hoạt động ổn định, có kế hoạch kinh doanh rõ ràng và dòng tiền minh bạch sẽ có khả năng tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn. Ngược lại, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực rủi ro, lịch sử tín dụng không tốt hoặc từng phát sinh nợ xấu sẽ phải chấp nhận chi phí cao hơn.

Điều này cho thấy diễn biến lãi suất cho vay hiện nay không chỉ phản ánh mặt bằng tiền tệ chung, mà còn phản ánh mức độ phân hóa về chất lượng tín dụng.

Cùng một thời điểm, doanh nghiệp tốt có thể vay với mức tương đối thấp, trong khi doanh nghiệp rủi ro phải chịu chi phí cao hơn đáng kể. Khoảng cách này có thể tiếp tục giãn ra khi các ngân hàng siết chặt hơn việc đánh giá dòng tiền, chất lượng tài sản và khả năng trả nợ.

Nhu cầu vốn của khu vực doanh nghiệp hiện vẫn lớn, đặc biệt khi hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu tiếp tục mở rộng.

Ông Quang cho biết trong 30 năm làm ngân hàng, ông chưa từng thấy nhu cầu vay vốn trên thị trường ở mức thấp. Trong bối cảnh xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng mạnh, nhu cầu tài trợ thương mại của doanh nghiệp vẫn cao.

Ngược lại, vay vốn của khách hàng cá nhân để đầu tư bất động sản đang có dấu hiệu chậm lại.

Các nhu cầu như mua bất động sản để cho thuê, nắm giữ tài sản hoặc đầu tư giảm, trong khi nhu cầu vay phục vụ sản xuất, kinh doanh và mở rộng hoạt động của doanh nghiệp vẫn lớn.

Sự dịch chuyển này cũng cho thấy tăng trưởng tín dụng hiện không diễn ra đồng đều ở mọi phân khúc. Dòng vốn đang có xu hướng tập trung nhiều hơn vào những hoạt động tạo ra dòng tiền và phục vụ sản xuất, thương mại.

UOB: Lãi suất huy động 10% chưa phản ánh mặt bằng chung插图1

Ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam. (Ảnh: UOB).

Tín dụng năm nay có thể tăng 15–16%

Tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 8 vào khoảng 10%. Với tốc độ này, mục tiêu 15% cả năm được đánh giá có khả năng đạt được.

“Mục tiêu năm nay tăng trưởng tín dụng 15% là hoàn toàn khả thi. Tôi nghĩ năm nay tăng trưởng tín dụng đâu đó khoảng 15–16%”, ông Quang dự báo.

Nếu đạt mức trên, tín dụng tiếp tục duy trì tốc độ tăng cao trong bối cảnh nhu cầu vốn cho sản xuất, thương mại và các dự án đầu tư lớn vẫn đáng kể.

Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao không đồng nghĩa nền kinh tế phải phụ thuộc hoàn toàn vào việc mở rộng tín dụng.

Chính sách tài khóa và đầu tư công được kỳ vọng đóng vai trò dẫn dắt lớn hơn bên cạnh chính sách tiền tệ. Việc triển khai các dự án hạ tầng tạo nhu cầu về máy móc, nguyên vật liệu, lao động và dịch vụ, từ đó lan tỏa sang hoạt động của khu vực doanh nghiệp.

Ở cấp độ hệ thống, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện khoảng 138%, còn tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) đạt 98,7%. Tỷ lệ vốn cấp 1 của ngành ngân hàng cuối năm 2025 ước khoảng 10,59%, thấp hơn một số quốc gia ASEAN.

Các chỉ số này cho thấy ngân hàng vẫn còn vai trò rất lớn trong cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhưng dư địa để tiếp tục mở rộng tín dụng với tốc độ cao trong thời gian dài không phải vô hạn.

Trong ngắn hạn, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn chủ đạo. Tuy nhiên, với những dự án có thời gian đầu tư dài, nhu cầu vốn lớn và thời gian hoàn vốn kéo dài, việc tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng sẽ tạo thêm áp lực lên thanh khoản và bảng cân đối của hệ thống.

Vì vậy, các kênh như thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và nhà đầu tư tổ chức dài hạn sẽ cần đóng vai trò lớn hơn, qua đó chia sẻ nhu cầu vốn với hệ thống ngân hàng.

Trong bối cảnh đó, câu chuyện lãi suất thời gian tới không chỉ nằm ở việc một vài ngân hàng huy động ở mức bao nhiêu, mà còn ở khả năng phân bổ vốn tới đúng nhóm doanh nghiệp, mức độ phân hóa về chất lượng người vay và khả năng mở rộng các kênh vốn ngoài ngân hàng.

lãi suất, tín dụng, UOB#UOB #Lamp227i #suất #huy #động #chưa #phản #amp225nh #mặt #bằng #chung1789865013

Xem các tin khác:

Nhà 3 đến 5 tỷDanh sách nhà Hot 5-8 tỷ
NHÀ MẶT TIỀNNHÀ TỪ 8 ĐẾN 12 TỶ