Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/4, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 297 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ.
Số liệu vừa công bố của Cục Hải quan cho biết, kim ngạch xuất nhập khẩu nửa đầu tháng 4/2026 (1/4 – 15/4) đạt 47,3 tỷ USD, tăng 33% so với cùng kỳ năm trước (YoY). Trong đó, giá trị xuất khẩu đạt 21,5 tỷ USD, tăng 27% YoY; nhập khẩu với 25,8 tỷ USD, tăng 38% YoY.
Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/4, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 297 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu đạt 144,5 tỷ USD, tăng 20,3% YoY; nhập khẩu đạt 152 tỷ USD, tăng 28% YoY; nhập siêu 7,9 tỷ USD (cùng kỳ xuất siêu 1,7 tỷ USD).
6 mặt hàng xuất khẩu chiếm 65% tổng giá trị
Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/4, Việt Nam có 6 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với 36,5 tỷ USD, tăng 47% so với cùng kỳ; điện thoại và linh kiện với 18,9 tỷ USD, tăng 19,6% YoY; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 17,8 tỷ USD, tăng 23% YoY.
Các mặt hàng xuất khẩu lớn tiếp theo là nhóm may mặc đạt tổng cộng 10,2 tỷ USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ; giày dép đạt 6,4 tỷ USD, tăng 0,6% YoY; phương tiện vận tải và phụ tùng với 5,3 tỷ USD, tăng 17,3% YoY.
Tổng kim ngạch 6 mặt hàng trên đạt 95,3 tỷ USD, chiếm 66% giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ.
Trong nhóm nông thủy sản, giá trị xuất khẩu thủy sản tăng 15,6% YoY, lên 3,1 tỷ USD; rau quả cũng tăng cao với 29,1% YoY, đạt 1,79 tỷ USD; hạt điều với 4,5% YoY, lên 1,07 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu cũng tăng tới 29,8% so với cùng kỳ, lên mức 522 triệu USD; sắn và sản phẩm từ sắn tăng 18,2% YoY, đạt 511 triệu USD; chè với 3,4% YoY, đạt 50 triệu USD.
Giá trị xuất khẩu gạo và cà phê lại giảm lần lượt 10,5% và 6,5% so với cùng kỳ, còn 1,3 tỷ USD và 3,17 tỷ USD.
Trong kỳ, Cục Hải quan cũng công bố số liệu xuất khẩu quế và hoa quế với 68,7 triệu USD (cùng kỳ không có số liệu mặt hàng này).
Một số mặt hàng xuất khẩu lớn khác tăng cao như đồ chơi, dụng cụ, thể thao và bộ phận tăng 57% so với cùng kỳ, lên 2,2 tỷ USD; sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ với 1,2 tỷ USD, tăng 23% YoY; dây điện và dây cáp điện đạt 1,3 tỷ USD, tăng 18,6% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu máy ảnh, máy quay phim và linh kiện cũng tăng 16,9% so với cùng kỳ, lên 2,4 tỷ USD; sản phẩm từ chất dẻo tăng 10,5% YoY, đạt 2,19 tỷ USD; túi xách, ví, vali, mũ ô dù tăng 11,6% YoY, đạt 1,3 tỷ USD.
Một số nhóm hàng giá trị nhỏ có mức tăng trưởng vượt trội như phân bón tăng tới 83,8% so với cùng kỳ, lên 461 triệu USD; than tăng 181% YoY, đạt 77 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 55% YoY, đạt 511 triệu USD; chất dẻo nguyên liệu tăng 33% YoY, lên 910 triệu USD.
Hai mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD
Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/4, kim ngạch nhập khẩu đạt 152 tỷ USD, tăng 28% so với cùng kỳ. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng nhập khẩu lớn nhất với 56,9 tỷ USD, tăng 53% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 18,5 tỷ USD, tăng 22,9% YoY.
Tổng kim ngạch hai mặt hàng trên đạt 75,5 tỷ USD, chiếm 50% giá trị nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ.
Một số mặt hàng nhập khẩu lớn khác bao gồm vải với 4,1 tỷ USD, giảm nhẹ 0,9% YoY; nguyên phụ liệu dệt may, da giày với 2,08 tỷ USD, tăng 2,6% YoY; hóa chất tăng 20,8% YoY, đạt 2,7 tỷ USD; sản phẩm từ chất dẻo tăng 20,8% YoY, đạt 3,2 tỷ USD; chất dẻo nguyên liệu tăng 4,8% YoY, đạt 3,7 tỷ USD.
Kim loại thường khác nhập khẩu cũng tăng cao với 29,5% so với cùng kỳ, lên 3,9 tỷ USD; sản phẩm từ sắt thép với 2,5 tỷ USD, tăng 30,7% YoY; ô tô nguyên chiếc với 1,5 tỷ USD, tăng 29,1% YoY; linh kiện và phụ tùng ô tô với 2,1 tỷ USD, tăng 44% YoY.
Ngược lại, một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ như điện thoại và linh kiện giảm 9,2% YoY, còn 2,7 tỷ USD; sắt thép giảm 2,3% YoY, đạt 3,09 tỷ USD; phế liệu sắt thép giảm 2,2% YoY, đạt 548 triệu USD; phân bón giảm 23,1% YoY, đạt 391 triệu USD.
Trong kỳ, kim ngạch nhập khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng tới 386% so với cùng kỳ năm trước, từ mức 270 triệu USD lên 1,2 tỷ USD; sản phẩm khác từ dầu mỏ tăng 100% YoY, từ 496 triệu USD lên 995 triệu USD.
Ở nhóm năng lượng, kim ngạch nhập khẩu xăng dầu tăng tới 95,6% so với cùng kỳ, lên 3,7 tỷ USD; khí đốt hóa lỏng cũng tăng 14% YoY, đạt 645 triệu USD; quặng và khoáng sản khác tăng 26,1% YoY, đạt 1,1 tỷ USD; than tăng 1,8% YoY, đạt 2,2 tỷ USD. Trong khi đó, giá trị nhập khẩu dầu thô lại giảm 15,2% YoY, còn 2,1 tỷ USD.
Trong nhóm nông thủy sản, Việt Nam chi 1,7 tỷ USD để nhập khẩu hạt điều, tăng 28% YoY; lúa mì với 906 triệu USD, tăng 69% YoY; ngô với 962 triệu USD, tăng 45,9% YoY; rau quả với 928 triệu USD, tăng 33% YoY.
Kim ngạch nhập khẩu thủy sản đạt 904 triệu USD, tăng 1,7% YoY; đậu tương với 483 triệu USD, tăng 75% YoY; sữa và sản phẩm sữa tăng 24,9% YoY, lên 497 triệu USD.
Trong kỳ, Cục Hải quan cũng công bố số liệu nhập khẩu hai mặt hàng thịt và sản phẩm từ thịt với 796 triệu USD; sắn và sản phẩm từ sắn với 521 triệu USD (cùng kỳ không ghi nhận số liệu các mặt hàng này).
Thương mại,việt nam,xuất khẩu,nhập khẩu,thương mại việt nam,xuất khẩu tháng 4/2026,nhập khẩu tháng 4/2026,thương mại tháng 4/2026,Nông nghiệp,nông sản,thủy sản,cục hải quan,thương mại việt nam tháng 4/2026,Điện tử,Dệt may,năng lượng,xăng dầu,dầu thô,rau q#Xuất #nhập #khẩu #đến #ngày #tăng #đạt #gần #tỷ #USD1776568596










