Trong chuỗi cung ứng trải dài qua hàng nghìn nông hộ, ‘mắt xích yếu nhất’ nhiều khi quyết định chất lượng của cả lô hàng.
![]() |
Theo số liệu của Cục Hải quan, 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 168.823 tấn hồ tiêu, thu về 1,09 tỷ USD, tăng 16,7% về lượng và 11,1% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, Báo cáo mùa vụ bán niên 2026 của Nedspice cho thấy sản lượng hồ tiêu toàn cầu đã giảm 28% trong vòng 7 năm qua, xuống còn khoảng 462.000 tấn, trong khi nhu cầu tiêu thụ tiếp tục tăng.
Áp lực của ngành hồ tiêu hiện nay không còn nằm ở sản lượng. Trong báo cáo trình bày tại Đại hội Hiệp hội gia vị châu Âu (ESA) năm 2026, Nedspice – tập đoàn gia vị Hà Lan, chỉ ra hàng loạt nút thắt của chuỗi gia vị bền vững: từ tỷ lệ tuân thủ giảm dần ở nông hộ, sự thiếu thống nhất trong thực hành sản xuất, khó khăn trong đo lường tác động môi trường cho tới việc thị trường chưa định giá đầy đủ cho các giá trị bền vững.
Tuy nhiên, sau gần ba thập kỷ có mặt tại Việt Nam với hơn mười năm phát triển vùng nguyên liệu và triển khai các chương trình bền vững, Nedspice cho rằng nhiều điểm nghẽn của chuỗi cung ứng vẫn chưa thay đổi đáng kể. Trong chuỗi sản xuất trải dài qua hàng nghìn nông hộ, tính ổn định của sản xuất vẫn là thách thức lớn nhất, bởi chỉ một mắt xích không tuân thủ cũng có thể ảnh hưởng đến toàn bộ lô hàng xuất khẩu.
Trao đổi với Mekong ASEAN, ông Lê Thanh Hùng, Giám đốc Thu mua và Phát triển chuỗi cung ứng, Công ty Nedspice Việt Nam, phân tích những điểm nghẽn lớn nhất của chuỗi hồ tiêu và cách doanh nghiệp đang thích ứng với các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu.
![]() |
|
Ông Lê Thanh Hùng, Giám đốc Thu mua và Phát triển chuỗi cung ứng, Công ty Nedspice Việt Nam |
Mekong ASEAN: Sau hơn 10 năm xây dựng chuỗi hồ tiêu bền vững với hàng nghìn nông hộ, theo ông đâu là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay?
Ông Lê Thanh Hùng: Theo tôi, khó khăn lớn nhất trong việc xây dựng chuỗi cung ứng hay chuỗi liên kết với nông dân chính là tính ổn định.
Đầu tiên, sản xuất hồ tiêu ở Việt Nam chủ yếu dựa trên các nông hộ nhỏ lẻ. Mỗi hộ có nền tảng sản xuất, kinh nghiệm canh tác và mức độ tuân thủ khác nhau. Khi muốn xây dựng một tiêu chuẩn chung cho toàn bộ hệ thống, doanh nghiệp phải tập hợp rất nhiều nông hộ lại với nhau, trong khi điều kiện sản xuất của mỗi người lại không giống nhau.
Thứ hai, nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên. Một quy trình có thể phù hợp trong năm nay nhưng sang năm sau, khi thời tiết, khí hậu hoặc dịch bệnh thay đổi, quy trình đó lại cần điều chỉnh.
Thứ ba là yếu tố thị trường. Khi giá nông sản xuống thấp, người dân có thể chuyển sang cây trồng khác. Điều đó khiến những quy trình doanh nghiệp đã mất nhiều thời gian xây dựng phải làm lại từ đầu.
Ba yếu tố này cộng hưởng, khiến chuỗi cung ứng luôn ở trạng thái thiếu ổn định.
Ngành hồ tiêu toàn cầu* Sản lượng hồ tiêu toàn cầu giảm từ khoảng 647.000 tấn niên vụ 2018-2019 xuống còn khoảng 462.000 tấn niên vụ 2025-2026. * Năm 2026 là năm thứ 5 liên tiếp sản lượng toàn cầu thấp hơn nhu cầu tiêu thụ. * Việt Nam vẫn là quốc gia xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới. * Các thị trường ngày càng siết yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và minh bạch chuỗi cung ứng. (Nguồn: Báo cáo mùa vụ bán niên 2026 của Tập đoàn gia vị Nedspice; Số liệu thống kê của Cục Hải quan Việt Nam.) |
Mekong ASEAN: Trong bối cảnh nông hộ nhỏ lẻ, liệu việc tuân thủ tiêu chuẩn có khả thi không?
Ông Lê Thanh Hùng: Chúng tôi luôn xuất phát từ yêu cầu của thị trường.
Đối với ngành gia vị, thị trường tiêu thụ chính là châu Âu, Mỹ và các thị trường quốc tế khác. Muốn bán được hàng vào những thị trường này, sản phẩm phải đáp ứng nhiều yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, chống phá rừng, các tiêu chí xã hội hay hữu cơ.
Do đó, doanh nghiệp phải xây dựng quy trình sản xuất dựa trên các yêu cầu này rồi triển khai ngược trở lại cho người nông dân.
Quản lý chất lượng không bắt đầu tại nhà máy mà phải bắt đầu từ vùng trồng. Từ vật tư đầu vào, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, quản lý vùng nguyên liệu đến truy xuất nguồn gốc đều phải được kiểm soát ngay từ khâu sản xuất.
Khi nông dân đáp ứng được các yêu cầu này, doanh nghiệp mới có thể duy trì sự tuân thủ trong các khâu tiếp theo như thu mua, vận chuyển, lưu kho, chế biến và xuất khẩu.
Mekong ASEAN: Hồ tiêu Việt Nam từng nhiều lần đối mặt với vấn đề dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Theo ông, tình hình hiện nay đã cải thiện như thế nào?
Ông Lê Thanh Hùng: Tôi cho rằng đa số nông dân hiện nay đều thực hành khá tốt. Vấn đề không chỉ nằm ở từng hộ riêng lẻ mà nằm ở khâu quản trị chuỗi cung ứng.
Một doanh nghiệp muốn xuất khẩu phải thu mua từ rất nhiều nông hộ khác nhau. Nếu chỉ có một hộ không tuân thủ và sản phẩm bị trộn lẫn với những hộ còn lại thì toàn bộ lô hàng có thể bị ảnh hưởng.
Đó là lý do vì sao chúng tôi tập trung vào hai vấn đề: nâng cao nhận thức của nông dân về sử dụng vật tư đầu vào và quản lý chặt chẽ hệ thống thu mua để tránh tình trạng lẫn lộn giữa hàng đạt chuẩn và không đạt chuẩn.
Theo đánh giá của chúng tôi, khoảng 80% sản lượng có thể đáp ứng yêu cầu, trong khi 10-20% có nguy cơ không đạt do sâu bệnh hoặc việc sử dụng đầu vào chưa phù hợp.
Vấn đề là nếu 80% sản lượng tốt bị trộn lẫn với phần còn lại thì tỷ lệ sản phẩm không đạt có thể tăng lên rất cao. Vì vậy quản trị chuỗi quan trọng không kém bản thân chất lượng sản xuất.
![]() |
| Các chuyên gia nông nghiệp, cán bộ kỹ thuật của Nedspice Việt Nam tổ chức tập huấn cho các nông dân ngay tại vùng nguyên liệu. Ảnh do nhân vật cung cấp |
Mekong ASEAN: Doanh nghiệp đã triển khai các giải pháp cụ thể như thế nào tại Đồng Nai?
Ông Lê Thanh Hùng: Để giải bài toán đó, Nedspice bắt đầu từ việc tổ chức lại nông dân thành các đội nhóm, tổ hợp tác hoặc hợp tác xã.
Khi sản xuất còn quá phân tán thì rất khó triển khai đào tạo và giám sát. Vì vậy chúng tôi phải tập hợp nông dân lại, sau đó mới xây dựng các chương trình tập huấn về thực hành nông nghiệp tốt, vệ sinh an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn quốc tế.
Các lớp đào tạo được tổ chức ngay tại vùng nguyên liệu, phù hợp với từng mùa vụ nhằm giúp bà con dễ tham gia hơn.
Ngoài đội ngũ kỹ thuật nội bộ, chúng tôi còn phối hợp với các viện, trường và chuyên gia nông nghiệp để hỗ trợ nông dân. Song song với đào tạo là hệ thống giám sát và các nền tảng công nghệ nhằm bảo đảm việc tuân thủ xuyên suốt toàn bộ chuỗi cung ứng.
Mekong ASEAN: Theo ông, làm thế nào để nâng cao giá trị của hồ tiêu Việt Nam?
Ông Lê Thanh Hùng: Trước hết phải tăng tỷ lệ chế biến sâu.
Nếu chỉ xuất khẩu nguyên liệu thô thì rất khó tạo ra giá trị gia tăng cao. Khi doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, giá trị sản phẩm tăng lên và điều đó cũng tạo dư địa để chia sẻ nhiều hơn với người sản xuất.
Bên cạnh đó là các chứng nhận quốc tế. Những sản phẩm đạt chứng nhận hữu cơ hoặc các tiêu chuẩn bền vững thường nhận được mức giá cộng thêm từ thị trường.
Ví dụ, hồ tiêu hữu cơ có thể được bán với mức giá cao hơn khoảng 20-30% so với sản phẩm thông thường vì người tiêu dùng sẵn sàng chi trả cho chất lượng và tính bền vững.
Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất hữu cơ cũng phải dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường. Không phải khách hàng nào cũng sẵn sàng trả thêm cho phần giá trị gia tăng đó.
Mekong ASEAN: Chuyển đổi số được Nedspice ứng dụng như thế nào trong chuỗi cung ứng?
Ông Lê Thanh Hùng: Chuyển đổi số có hai mục tiêu chính.
Thứ nhất là minh bạch hóa dữ liệu vùng trồng và truy xuất nguồn gốc. Khi các tập đoàn đa quốc gia và thị trường EU ngày càng đặt mục tiêu phát triển bền vững cho chuỗi cung ứng, việc đo lường tác động môi trường, truy xuất nguồn gốc và chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng trở thành yêu cầu bắt buộc thay vì lợi thế cạnh tranh.
Thứ hai là hỗ trợ công tác quản trị. Khi doanh nghiệp làm việc với hàng nghìn nông dân thì việc đào tạo, truyền thông và giám sát gần như không thể thực hiện hiệu quả nếu thiếu nền tảng số. Hiện nay, toàn bộ các vùng trồng tham gia hệ thống chứng nhận đều được quản lý trên nền tảng số.
Khoảng 50% sản lượng của chúng tôi đã có thể truy xuất nguồn gốc đến từng nông hộ. Tương ứng với đó là khoảng 10.000 ha vùng nguyên liệu được số hóa ở các mức độ khác nhau, trong đó khoảng 5.000 ha đạt các chứng nhận liên quan. Nếu không có nền tảng số, việc quản lý hàng nghìn nông hộ gần như không khả thi.
Chương trình phát triển bền vững của Nedspice tại Việt Nam bắt đầu từ giai đoạn 2012-2013, khi sáng kiến gia vị bền vững toàn cầu được đưa vào ngành hồ tiêu Việt Nam. Từ đó, doanh nghiệp xây dựng chuỗi cung ứng dựa trên các yếu tố môi trường, xã hội và kinh tế, từ giảm sử dụng hóa chất, bảo vệ đất đai, quản lý nước tưới đến chăm lo sức khỏe người lao động.
Một trong những mô hình được triển khai là trồng hồ tiêu trên trụ sống thay cho trụ gỗ hoặc trụ bê tông nhằm cải thiện hệ sinh thái và giảm tác động môi trường.
Hiện nay, Nedspice cũng đã triển khai các chương trình đo lường dấu chân carbon như bước chuẩn bị cho các yêu cầu mới về phát thải và minh bạch chuỗi cung ứng trong tương lai. “Thị trường quốc tế sẽ tiếp tục đưa ra những tiêu chuẩn mới và doanh nghiệp phải thích nghi. Tuy nhiên, điều quan trọng là các quy định cần tính đến thực tế sản xuất nông hộ nhỏ lẻ của Việt Nam để có thể triển khai hiệu quả,” ông Hùng nói.
Sau hơn một thập kỷ xây dựng chuỗi hồ tiêu bền vững, bài toán mà Nedspice trăn trở nhất vẫn không nằm ở công nghệ hay chứng nhận, mà ở khả năng giữ hàng nghìn nông hộ cùng đi theo một chuẩn chung. Trong bối cảnh yêu cầu từ thị trường ngày càng khắt khe, đó cũng là thách thức lớn của ngành hồ tiêu Việt Nam.
Nedspice,hạt tiêu,gia vị,vốn FDI,Hà Lan,phát triển bền vững,chuỗi cung ứng toàn cầu,chuỗi cung ứng bền vững,Nông nghiệp,Truy xuất nguồn gốc,Chuyển đổi số,số hóa vùng trồng,xuất khẩu#năm #xây #chuỗi #hồ #tiêu #vẫn #vướng #nút #thắt #nông #hộ #nhỏ #lẻ1787919752













