Đặc sắc di tích thờ An Sinh vương và tượng đài Trần Hưng Đạo trên núi An Phụ

Thuộc khu di tích quốc gia đặc biệt An Phụ, phường Phạm Sư Mạnh, thành phố Hải Phòng, đền Cao An Phụ tọa lạc trên đỉnh non thiêng cao nhất của dãy núi là nơi thờ đức An Sinh vương Trần Liễu. Cách ngôi đền khoảng 300m về phía trước là tượng đài Trần Hưng Đạo – vị tướng kiệt xuất, lừng lẫy thời Trần.

Tọa lạc trên đỉnh non thiêng An Phụ

Dãy núi An Phụ có hai nhánh kéo dài, phía đông đến An Lưu, trị sở của phủ Kinh Môn xưa, nay thuộc phường Kinh Môn; phía tây giáp sông Kinh Thầy, nay thuộc phường Nam An Phụ, thành phố Hải Phòng, đối ngạn với núi Cả của vùng đất Chí Linh xưa. Tọa lạc trên đỉnh non thiêng cao nhất của dãy núi là đền Cao An Phụ (tên chữ là An Phụ Sơn từ), thờ đức An Sinh vương Trần Liễu – thân phụ của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo.

Lối lên đền Cao An Phụ. Ảnh: Mekong ASEAN.
Lối lên đền Cao An Phụ. Ảnh: Mekong ASEAN.

Tương truyền, đền Cao An Phụ được xây dựng vào thời Trần (thế kỷ thứ 13). Tuy nhiên, trải qua những biến thiên của thời gian, sự phong hóa của thiên nhiên, ngôi đền đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Để đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của người dân và du khách, đền được trùng tu, tôn tạo năm 2005, hoàn thành năm 2007 với kiến trúc kiểu tiền nhất hậu đinh gồm 3 gian tiền tế, trung từ và hậu cung.

Trong đó, tòa tiền tế là nơi diễn ra các nghi thức tế lễ và tiếp đón khách hành hương. Công trình có kiến trúc hình chữ “nhất” (一), gồm 5 gian, kết cấu 2 tầng 8 mái, mái lợp ngói mũi hài, phần cổ các tạo chấn song con tiện. Hệ thống vì kiểu chồng rường giá chiêng, trang trí hoa văn cách điệu. Trong tòa tiền tế, bài trí ban thờ, trên có ngai và bài vị An Sinh vương Trần Liễu. Các hoành phi, câu đối ca ngợi công tích của ông, thể hiện lòng tôn kính của hậu thế đối với vị vương gia nhà Trần.

Đền Cao An Phụ (tên chữ là An Phụ Sơn từ) tọa lạc trên đỉnh non thiêng cao nhất của dãy núi An Phụ. Ảnh: Mekong ASEAN.
Đền Cao An Phụ (tên chữ là An Phụ Sơn từ) tọa lạc trên đỉnh non thiêng cao nhất của dãy núi An Phụ. Ảnh: Mekong ASEAN.

Tiếp theo, trung từ gồm 3 gian 2 chái, kết cấu các bộ vì kiểu chồng rường giá chiêng, các cấu kiện kiến trúc trang trí hoa lá mềm mại, uyển chuyển. Hệ thống cột đủ bốn hàng chân, đặt trên chân tảng đá xanh. Gian chính giữa trung từ đặt hương án lớn, bên trái là ban thờ Bắc Đẩu, bên phải đặt ban thờ Nam Tào.

Bên trong hậu cung bài trí ban thờ, tượng An Sinh vương Trần Liễu. Tương truyền, ngay dưới tượng là phần mộ, nơi ông đã hóa. Hai bên ban thờ ông là ban thờ Đệ Nhất vương cô và Đệ Nhị vương cô (cháu gái nội của ông và là con gái của đức thánh Trần Hưng Đạo) – là những vị nữ tướng “khi sống thì phò vua giúp nước, khi thác thì hộ quốc cứu dân”…

Tượng đức An Sinh vương Trần Liễu bên trong hậu cung ngôi đền. Ảnh: Mekong ASEAN.
Tượng đức An Sinh vương Trần Liễu bên trong hậu cung ngôi đền. Ảnh: Mekong ASEAN.

Giúp triều đình trấn ải vùng Đông Bắc

Theo nguồn tài liệu lưu giữ tại Ban Quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, An Sinh vương Trần Liễu sinh vào niên hiệu Kiến Gia thứ I (1211), nguyên quán tại hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay thuộc phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình. Ông là con trai cả của cụ Trần Thừa, mẹ là Lê phu nhân và là anh ruột của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) – vị hoàng đế đầu tiên của triều đại nhà Trần.

Tháng 8 âm lịch năm 1228, Trần Liễu được Thái Tông phong làm Thái úy. Đến tháng 8, năm 1234, ông được phong hiệu làm Hiển Hoàng, ra chính trường phụ chính cho Thái Tông bên cạnh Thái sư Trần Thủ Độ. Năm 1236, ông làm Hoài vương…

Nhà bia bên cạnh ngôi đền. Ảnh: Mekong ASEAN.
Nhà bia bên cạnh ngôi đền. Ảnh: Mekong ASEAN.

Năm 1237, triều đình cắt đất ở các xã An Phụ, An Dưỡng, An Sinh, An Hưng, An Bang (nay thuộc thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh) cho Trần Liễu làm thái ấp và phong làm An Sinh vương. Trần Liễu đã lập trung tâm thái ấp tại An Sinh, giúp triều đình nhà Trần trấn ải vùng Đông Bắc, ra sức kiến thiết nơi đây thành một vùng trù phú và chăm lo cho bách tính trăm họ trong vùng.

Bên tả sông Kinh Thầy, ông cho xây dựng nhiều công trình đền, đài, thái miếu… thờ các vị tổ tiên nhà Trần. Bên hữu sông Kinh Thầy, ông cho xây dựng chùa Tường Vân trên đỉnh núi, chùa Gạo ở chân núi là cứ điểm quân sự, đồng thời là kho tích trữ lương thảo, hậu cần… cho cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên ở thế kỷ thứ 13.

Đặc biệt, ông có công rất lớn trong việc nuôi dạy người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Ông luôn tìm thầy giỏi rèn luyện con trai trở thành một trang tuấn kiệt, văn võ song toàn, nhà quân sự thiên tài đã thống lĩnh quân dân Đại Việt 3 lần đánh thắng quân xâm lược Mông – Nguyên…

Chùa Tường Vân nằm cách đền Cao An Phụ khoảng hơn 30m. Ảnh: Mekong ASEAN.
Chùa Tường Vân nằm cách đền Cao An Phụ khoảng hơn 30m. Ảnh: Mekong ASEAN.

Năm 1251, An Sinh vương hóa tại mảnh đất này, hưởng thọ 40 tuổi. Theo tương truyền về sự hóa của An Sinh vương trên núi An Phụ, trước khi mất ông có căn dặn với người nhà, gia nô của mình rằng: “Ta lên đỉnh núi An Phụ trong vòng 14 ngày (tương ứng với ông ở mảnh đất này 14 năm), nếu ta không quay trở về trang ấp thì các ngươi hãy lên đây tìm ta”.

Giếng Mắt Rồng phía trước chùa Tường Vân. Ảnh: Mekong ASEAN.
Giếng Mắt Rồng phía trước chùa Tường Vân. Ảnh: Mekong ASEAN.
Giếng Ngọc cạnh giếng Mắt Rồng. Ảnh: Mekong ASEAN.
Giếng Ngọc cạnh giếng Mắt Rồng. Ảnh: Mekong ASEAN.

Nghe theo lời ông, sau 14 ngày không thấy An Sinh vương quay trở về trang ấp, người nhà, gia nô lên tìm, nhưng không thấy ông đâu cả mà chỉ thấy ở vị trí gian hậu cung đền Cao An Phụ ngày nay có 2 cây xoan đào và mắc giữa hai cây có một chiếc võng trong đó có một tổ mối. Người nhà, gia nô vô cùng thương xót cho rằng ông đã hóa tại đây vào ngày 1 tháng 4 năm Nguyên Phong thứ nhất (năm 1251) nên đã cho đắp mộ và lập miếu thờ. Vua Trần Thái Tông truy phong tước Khâm Minh Đại vương, sắc chỉ nhân dân lập đền thờ.

Hàng năm, cứ vào ba tháng mùa xuân, trung tuần tháng 8 âm lịch, đặc biệt là ngày 1 tháng 4 âm lịch (ngày giỗ của An Sinh vương, cũng là dịp lễ hội truyền thống đền Cao An Phụ), người dân, du khách và phật tử thập phương lại nô nức về đền tri ân công đức An Sinh vương – người đã có công chăm lo cho bách tính trăm họ trong vùng, đặc biệt có công sinh thành, dưỡng dục vị anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại vương.

Những bức tường đã nhuốm màu rêu phong trong khu vực đền. Ảnh: Mekong ASEAN.
Những bức tường đã nhuốm màu rêu phong trong khu vực đền. Ảnh: Mekong ASEAN.

Công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc

Cũng theo thông tin từ tài liệu từ Ban Quản lý di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn sinh năm 1228 mất ngày 20/8/1300 tại tư dinh Vạn Kiếp (nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng).

Cây đại hàng trăm tuổi vẫn tỏa bóng xanh mát. Ảnh: Mekong ASEAN.
Cây đại hàng trăm tuổi vẫn tỏa bóng xanh mát. Ảnh: Mekong ASEAN.

Hưng Đạo Đại vương – người anh hùng dân tộc văn võ song toàn có công lao to lớn trong 3 cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên ở thế kỷ thứ XIII. Trong tâm thức người Việt, Trần Hưng Đạo là Thanh Tiên Đồng Tử giáng trần để giúp dân diệt trừ giặc ngoại xâm. Sau khi hoá ngài là Cửu Thiên Vũ Đế, diệt trừ yêu ma, tà đạo… để giúp nước hộ dân.

Tượng đài Trần Hưng Đạo thuộc khu di tích quốc gia đặc biệt An Phụ là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc. Ảnh: Mekong ASEAN.
Tượng đài Trần Hưng Đạo thuộc khu di tích quốc gia đặc biệt An Phụ. Ảnh: Mekong ASEAN.

Nhằm tôn vinh công đức to lớn của Hưng Đạo Đại vương với đất nước và dân tộc, giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) đã ra quyết định xây dựng tượng đài Trần Hưng Đạo trên mảnh đất thang mộc ấp của An Sinh vương thuở trước, nơi có đền thờ thân phụ của ngài.

Sau 2 năm chuẩn bị và 3 năm thi công, vào ngày 18 tháng 8 năm Mậu Dần (8/10/1998), công trình được khánh thành trọng thể đúng dịp kỷ niệm 698 năm ngày mất của Hưng Đạo Đại vương.

Bên trái tượng đài là bức phù điêu bằng đất nung dài 45m, cao bình quân 2,5m, được ghép bởi 526 viên gạch, tái hiện lại trang sử hào hùng của quân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên. Ảnh: Mekong ASEAN.
Bên trái tượng đài là bức phù điêu bằng đất nung dài 45m, cao bình quân 2,5m, được ghép bởi 526 viên gạch, tái hiện lại trang sử hào hùng của quân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên. Ảnh: Mekong ASEAN.

Tượng đài Trần Hưng Đạo thuộc khu di tích quốc gia đặc biệt An Phụ toạ lạc trên một ngọn núi ở độ cao gần 200 m, thấp hơn đền thờ An Sinh vương Trần Liễu tầm 50 m, cách đền khoảng 300 m về phía trước. Tượng đài được tạc trong tư thế hiên ngang với chiều cao 12,7 m, trọng lượng khoảng 200 tấn, tay trái tỳ đốc kiếm, tay phải cầm cuốn binh thư, toát lên thần thái của bậc đại trung, đại hiếu, đại nghĩa, đại trí, đại tín…

Phía bên trái tượng đài là bức phù điêu bằng đất nung dài 45 m, cao bình quân 2,5 m, được ghép bởi 526 viên gạch, tái hiện lại trang sử hào hùng của quân dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên.

Trong đó, hình ảnh đầu tiên của bức phù điêu minh họa cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của quân dân nhà Trần. Hình ảnh thứ 13 cũng là hình ảnh cuối, minh họa khúc ca khải hoàn chào mừng chiến thắng. Ảnh: Mekong ASEAN.
Trong đó, hình ảnh đầu tiên của bức phù điêu minh họa cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của quân dân nhà Trần. Hình ảnh thứ 13 cũng là hình ảnh cuối, minh họa khúc ca khải hoàn chào mừng chiến thắng. Ảnh: Mekong ASEAN.

Khu tượng đài Trần Hưng Đạo góp phần làm tăng thêm giá trị lịch sử, văn hoá của khu di tích quốc gia đặc biệt An Phụ. Trong đó, tượng đài Trần Hưng Đạo là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, công phu, thể hiện sự tri ân, tấm lòng tôn kính và tự hào của người dân xứ Đông nói riêng, cả nước nói chung đối với người anh hùng dân tộc – Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.

Đền Cao,Hải Phòng#Đặc #sắc #tích #thờ #Sinh #vương #và #tượng #đài #Trần #Hưng #Đạo #trên #núi #Phụ1778113334

Xem các tin khác:

Nhà 3 đến 5 tỷDanh sách nhà Hot 5-8 tỷ
NHÀ MẶT TIỀNNHÀ TỪ 8 ĐẾN 12 TỶ