Dư nợ toàn hệ thống đã vượt mốc 19,4 triệu tỷ đồng sau 4 tháng, nhưng thách thức vẫn nằm ở bài toán “vốn ngắn hạn cho vay dài hạn”. NHNN đang linh hoạt điều phối các công cụ chính sách để đảm bảo tín dụng vừa là “bình oxy” cho doanh nghiệp, vừa là động lực cho các đột phá chiến lược.
![]() |
| Toàn cảnh buổi tọa đàm. Ảnh: SBV |
NHNN giảm lãi suất, thúc đẩy tín dụng tăng trưởng
Tại Tọa đàm “Vai trò ngành ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” ngày 8/5, ông Phạm Chí Quang – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN cho biết, sau chỉ đạo từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), nhiều ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động ở các kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng với mức giảm khoảng 0,5–1%/năm. Theo thống kê của NHNN, lãi suất bình quân đối với các khoản huy động mới hiện vào khoảng 5,7%, thấp hơn khoảng 0,26 điểm % so với cuối tháng 3/2026.
Theo ông Quang, NHNN sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường, đồng thời duy trì chênh lệch lãi suất hợp lý giữa đồng Việt Nam và USD nhằm giữ sức hấp dẫn của tiền đồng, qua đó góp phần hạn chế tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.
Lãnh đạo NHNN nhận định, nếu lãi suất huy động tiếp tục giảm và phản ánh rõ hơn vào cơ cấu nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, lãi suất cho vay sẽ có thêm điều kiện để giảm, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế.
![]() |
| Ông Phạm Chí Quang – Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN tại buổi tọa đàm. Ảnh: SBV |
Tại tọa đàm, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, cho biết nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành, tín dụng đã tăng trưởng đều từ đầu năm và tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Tính đến ngày 28/4/2026, tổng dư nợ toàn hệ thống đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025 và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước.
Theo bà Tùng, cơ cấu tín dụng hiện tương đối phù hợp với cơ cấu các ngành kinh tế, trong đó tín dụng dành cho lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 6%, công nghiệp và xây dựng chiếm 23,5%, còn khu vực dịch vụ chiếm 70,5%.
Dòng vốn tín dụng tiếp tục được định hướng mạnh vào các lĩnh vực ưu tiên. Trong đó, tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn đạt 4,3 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 22,2% tổng dư nợ; tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt gần 3,8 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 20%. Bên cạnh đó, các lĩnh vực như xuất khẩu và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao ghi nhận tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong quý 1/2026, lần lượt đạt 11,2% và 18,81%.
Đối với lĩnh vực xanh, dư nợ tín dụng xanh hiện đạt trên 780.000 tỷ đồng, trong khi dư nợ tín dụng đã được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 5,1 triệu tỷ đồng. Theo đánh giá, điều này góp phần hiện thực hóa chủ trương hạn chế các tác động tiêu cực tới môi trường trong quá trình triển khai dự án, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững hơn.
Bà Phạm Thị Thanh Tùng cũng cho rằng, cùng với các nguồn vốn khác, tín dụng ngân hàng đang đóng vai trò là nguồn lực tài chính thiết yếu cho hàng loạt dự án và công trình trọng điểm, trong đó có nhiều dự án được cam kết cấp tín dụng lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng. Qua đó, hệ thống ngân hàng đang góp phần quan trọng vào việc thực hiện một trong ba đột phá chiến lược của Đảng về phát triển hạ tầng.
Về định hướng tín dụng, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, đồng thời tiếp tục tập trung dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng của nền kinh tế, song song với kiểm soát chặt chẽ tín dụng ở những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro nhằm bảo đảm an toàn hệ thống.
Chia sẻ thêm về định hướng điều hành trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục phối hợp đồng bộ, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ cùng chính sách tài khóa để hướng tới ba mục tiêu xuyên suốt gồm thúc đẩy tăng trưởng bền vững, không chủ quan với lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
![]() |
| Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành, tín dụng đã tăng trưởng đều từ đầu năm và tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Ảnh: SBV |
Thách thức từ huy động vốn
Bên cạnh những kết quả đạt được, bà Phạm Thị Thanh Tùng cũng chỉ ra rằng hoạt động tín dụng ngân hàng hiện vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Theo bà, áp lực trước hết đến từ bối cảnh bên ngoài với hàng loạt yếu tố bất ổn như gián đoạn nguồn cung, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chính sách thuế đối ứng, xung đột quân sự, cùng với giá năng lượng và chi phí vận tải leo thang.
Ngoài ra, nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, với tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 ở mức khoảng 145%, trong khi thị trường vốn chưa phát triển tương xứng. Điều này khiến hệ thống ngân hàng phải gánh phần lớn nhu cầu cung ứng vốn cho nền kinh tế. Trong khi đó, rủi ro kỳ hạn tiếp tục là áp lực đáng chú ý khi khoảng 80% nguồn vốn huy động bằng VND là ngắn hạn, nhưng nhu cầu vay vốn trung và dài hạn lại rất lớn, từ đó tạo sức ép đáng kể lên khả năng cân đối nguồn vốn và bảo đảm an toàn hệ thống của các tổ chức tín dụng.
Một thách thức lớn khác là bài toán huy động và cân đối nguồn lực để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Theo số liệu của Bộ Tài chính được bà Tùng dẫn lại, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2026 – 2031 ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, riêng năm 2026 vào khoảng 5,1 triệu tỷ đồng, trong đó nhu cầu vốn tín dụng dự kiến ở mức khoảng 1,8 triệu tỷ đồng.
“Quy mô này về cơ bản vẫn nằm trong định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% mà NHNN đặt ra. Tuy nhiên, khó khăn nằm ở chỗ các tổ chức tín dụng sẽ phải đối mặt với áp lực rất lớn trong việc huy động đủ nguồn lực để đáp ứng mục tiêu này. Dữ liệu theo dõi từ quý 4/2025 đến giữa tháng 3/2026 cho thấy tốc độ tăng trưởng huy động vốn liên tục thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Điều này phản ánh thực tế rằng nhu cầu cho vay đang tăng nhanh hơn khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng, khiến các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tạo lập nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế thời gian tới,” bà Tùng chia sẻ.
Ở góc độ tín dụng theo ngành và lĩnh vực, bà Tùng cho biết việc triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng vẫn còn nhiều vướng mắc. Trong đó, mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp tục là bài toán khó do nhiều doanh nghiệp còn hạn chế về năng lực tài chính, thiếu minh bạch trong thông tin tài chính và quản trị. Đây là những yếu tố khiến các tổ chức tín dụng gặp khó khi mở rộng cho vay, đặc biệt với các khoản vay không có tài sản bảo đảm.
Bên cạnh đó, các tồn tại kéo dài của thị trường bất động sản tiếp tục tạo thêm áp lực cho hệ thống ngân hàng. Nhiều dự án vẫn gặp vướng mắc pháp lý, thông tin thị trường thiếu minh bạch, cơ sở dữ liệu chung chưa hoàn chỉnh và chưa có bộ chỉ tiêu rõ ràng để đánh giá trạng thái ổn định hay rủi ro bong bóng. Những hạn chế này khiến quá trình thẩm định, đánh giá khoản vay trở nên khó khăn hơn và làm gia tăng rủi ro tín dụng.
Một số chương trình tín dụng trọng điểm cũng đang triển khai chậm hơn kỳ vọng, điển hình là chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33 của Chính phủ. Dù đã được triển khai gần hai năm, tiến độ giải ngân vẫn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu do thiếu nguồn cung nhà ở xã hội. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giải ngân của các ngân hàng, bất chấp việc nhiều tổ chức tín dụng đã sẵn sàng nguồn vốn và NHNN đã áp dụng lãi suất ưu đãi cho chương trình.
Theo các chuyên gia tại tọa đàm, trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế rất lớn nhưng khả năng hấp thụ vốn ở một số khu vực còn hạn chế, việc dẫn vốn đến đúng địa chỉ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Dòng vốn tín dụng cần được tập trung vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng cao, có sức lan tỏa mạnh và thúc đẩy tăng trưởng dài hạn, thay vì chảy vào những khu vực tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Phát biểu tại tọa đàm, PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, Phó giám đốc Học viện Ngân hàng chia sẻ, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu năm 2026 tiếp tục đối mặt với nhiều bất ổn như chiến tranh, đứt gãy chuỗi cung ứng, khủng hoảng năng lượng và phân cực kinh tế, quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp cần được nhìn nhận vượt ra ngoài mô hình “cấp vốn – nhận vốn” truyền thống, mà là một cơ chế cộng sinh có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng dài hạn.
Theo bà Hoàng Anh, tại một nền kinh tế có mức độ phụ thuộc cao vào tín dụng ngân hàng như Việt Nam, ngân hàng đóng vai trò như “bình oxy” giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động và mở rộng sản xuất. Dù giữa hai bên luôn tồn tại khác biệt lợi ích khi ngân hàng hướng tới lợi nhuận, còn doanh nghiệp muốn giảm chi phí vốn nhưng đây vẫn là mối quan hệ không thể tách rời và cần được phối hợp hài hòa để cùng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bà cũng lưu ý rằng tăng trưởng tín dụng không đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế có chất lượng. Điều quan trọng không chỉ nằm ở quy mô tín dụng mà còn ở việc dòng vốn được phân bổ vào đâu, có thực sự hướng tới các lĩnh vực tạo năng suất, giá trị gia tăng và tăng trưởng thực chất hay không.
Vì vậy, tín dụng cần ưu tiên cho các ngành có hiệu quả cao, hạn chế rủi ro và tránh gây bất ổn vĩ mô. Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải chủ động nâng cao năng lực tài chính, khả năng hấp thụ và sử dụng vốn hiệu quả, thay vì chỉ kỳ vọng vào việc nới lỏng tín dụng từ phía ngân hàng. Song song với đó, hệ thống ngân hàng thương mại cần tiếp tục cải thiện năng lực quản trị rủi ro và chất lượng nguồn nhân lực.
![]() |
| Theo Phó giám đốc Học viện Ngân hàng, bà Phạm Thị Hoàng Anh tín dụng cần ưu tiên cho các ngành có hiệu quả cao, hạn chế rủi ro và tránh gây bất ổn vĩ mô. Ảnh: SBV |
Về phía Ngân hàng Nhà nước, theo Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong thời gian tới, NHNN và ngành ngân hàng sẽ triển khai các giải pháp tín dụng theo hướng chủ động, linh hoạt, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược theo định hướng của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới.
Cụ thể, NHNN tiếp tục chủ động rà soát để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng, tín dụng ngành, lĩnh vực; Tích cực tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ của ngành Ngân hàng tại các Nghị quyết, chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước như về tam nông, khoa học công nghệ, phát triển kinh tế tư nhân, giáo dục, năng lượng, dự án, công trình trọng điểm…
Bên cạnh đó, NHNN điều hành và triển khai các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng, phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế, các dự án, công trình trọng điểm, khả thi, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.
NHNN cũng sẽ tổ chức triển khai, theo dõi và kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; triển khai các nhiệm vụ của ngành ngân hàng tại các Chương trình mục tiêu quốc gia.
Tiếp tục theo dõi, đánh giá các hoạt động tín dụng đối với ngành, lĩnh vực; ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, trong nước tới các ngành, lĩnh vực kinh tế để có giải pháp điều hành tín dụng phù hợp. Kịp thời phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh trong hoạt động tín dụng ngành, lĩnh vực.
Ngân hàng – doanh nghiệp: Mối quan hệ cộng sinh của tăng trưởng
Từ góc độ thực tiễn triển khai, ông Vương Văn Quý, Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng ngân hàng Agribank, cho rằng trong bối cảnh tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đang trở thành xu thế tất yếu, yêu cầu đặt ra với tín dụng ngân hàng không chỉ là mở rộng quy mô mà còn phải bảo đảm tăng trưởng đúng hướng, hiệu quả và bền vững.
Theo ông Quý, với Agribank, vai trò không chỉ dừng ở việc cung cấp vốn mà còn là dẫn dắt dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Đại diện Agribank cho biết khu vực “tam nông” hiện vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tín dụng của ngân hàng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu chuyển đổi xanh ngày càng gia tăng, nhu cầu vốn cho nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch và phát triển bền vững cũng đang tăng mạnh.
![]() |
|
Ông Vương Văn Quý – Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank phát biểu tại tọa đàm. Ảnh: SBV |
Về phía Vietcombank, bà Vũ Thị Hồng Nhung – Trưởng phòng Chính sách sản phẩm bán buôn cho rằng, từ thực tiễn hoạt động của Vietcombank có thể thấy vai trò đồng hành với doanh nghiệp hiện không chỉ dừng lại ở việc cung cấp vốn mà còn xây dựng giải pháp và quản trị tài chính cho doanh nghiệp.
Theo đó, Vietcombank luôn chú trọng phân bổ nguồn lực để phát triển đa dạng các khu vực kinh tế, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Việc duy trì danh mục khách hàng đa dạng giúp Vietcombank có được nguồn vốn hợp lý với chi phí vốn phù hợp, từ đó có thể duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ổn định trong thời gian qua đối với các doanh nghiệp và khách hàng của ngân hàng.
Bà Nhung nhận định rằng, giữa ngân hàng và doanh nghiệp là mối quan hệ cộng sinh. Với hệ sinh thái gồm ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ cùng mạng lưới hiện diện ở nước ngoài, Vietcombank không chỉ hướng tới mối quan hệ 1-1 giữa ngân hàng và khách hàng mà còn kết nối hệ sinh thái của Vietcombank với hệ sinh thái của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể tư vấn cho doanh nghiệp những giải pháp tài chính phù hợp và hiệu quả hơn.
“Khi tham gia vào chuỗi cung ứng, Vietcombank có thể quan sát được dòng tiền và hoạt động thực tế của doanh nghiệp, từ đó làm cơ sở cấp tín dụng thay vì chỉ phụ thuộc vào tài sản bảo đảm. Điều này góp phần giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý hơn, đặc biệt là đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa,” bà Nhung chia sẻ.
Song song với đó, Vietcombank cũng đầu tư mạnh cho công nghệ số nhằm hoàn thiện các giải pháp ngân hàng số, cho vay online và quản trị tài chính trên nhiều nền tảng khác nhau, phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp. Theo đại diện ngân hàng, việc phát triển các giải pháp số sẽ hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu quản trị dòng vốn, đồng thời giảm thiểu chi phí hoạt động trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn hiện nay.
Ngân hàng,việt nam,Tín dụng,Dư nợ cho vay,lãi suất,vốn tín dụng,doanh nghiệp,Tín dụng xanh,Cấp vốn tín dụng#Tín #dụng #năm #Từ #mối #quan #hệ #cấp #vốn #sang #cộng #sinh #bền #vững1778241608















