Kế hoạch hai con số Kiên định mục tiêu với bệ đỡ từ thị trường nội địa Bài 1

Khát vọng hai con số - Bài 1: Kiên định mục tiêu: Bệ đỡ từ thị trường nội địa
Lời toà soạn: Kết luận số 18-KL/TW của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV đã xác định rõ những mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ trọng tâm nhằm tạo ra bước bứt phá kinh tế – xã hội trong bối cảnh mới. Trong đó, khát vọng đưa nền kinh tế vào quỹ đạo tăng trưởng hai con số không chỉ là một chỉ tiêu định lượng, mà còn là mệnh lệnh từ thực tiễn để Việt Nam hiện thực hóa tầm nhìn vươn mình trong kỷ nguyên mới.

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, mệnh lệnh hành động lúc này là phải chuyển thật mạnh từ “nhận thức đúng” sang “triển khai hiệu quả”, từ “ban hành chủ trương” sang “tạo ra sản phẩm và kết quả thực tế”. Đồng hành cùng khát vọng bứt phá của đất nước, Mekong ASEAN thực hiện chuỗi 4 bài viết với chủ đề “Kế hoạch hai con số”, góp phần nhận diện những xung lực từ nghị quyết đang trở thành kết quả hữu hình về kinh tế.

Thị trường trong nước đóng vai trò là điểm tựa chiến lược cho sự phát triển. Việc khơi thông sức mua và củng cố niềm tin của người tiêu dùng là những bước đi thực tế, bền bỉ để nuôi dưỡng khát vọng tăng trưởng hai con số một cách thực chất và bền vững.

Vượt qua những dự báo thận trọng, nền kinh tế Việt Nam trong quý đầu năm 2026 đã ghi nhận mức tích cực đạt 7,83%, cao hơn đáng kể so với mức tăng 7,07% của quý I/2025 và là mức cao nhất trong 10 năm. Bức tranh kinh tế Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều điểm sáng về sản xuất công nghiệp, tiêu dùng và đầu tư.

Nổi bật là sức hút của môi trường đầu tư khi tổng vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 18,24 tỷ USD, tăng vọt 71,5% so với cùng kỳ năm trước. Lượng vốn thực hiện cũng chạm mức cao nhất trong vòng 5 năm qua, đạt 7,40 tỷ USD, khẳng định niềm tin của nhà đầu tư quốc tế vào triển vọng dài hạn của Việt Nam.

Song song với đó, hoạt động sản xuất công nghiệp đang lấy lại nhịp độ sôi động với chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 9,2% so với cùng kỳ. Hoạt động xuất, nhập khẩu tiếp tục tăng trưởng tích cực. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 4 tháng ước đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so cùng kỳ; cán cân thương mại nhập siêu 7,11 tỷ USD, phản ánh nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất tăng mạnh.

Cầu tiêu dùng nội địa cũng như sự phục hồi của ngành du lịch đóng góp quan trọng vào tăng trưởng khi lượng khách quốc tế đạt mốc ấn tượng 8,8 triệu lượt người, cao nhất của 4 tháng đầu năm từ trước đến nay. Sản xuất kinh doanh có dấu hiệu khởi sắc với trên 119,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 32,8% so với cùng kỳ.

Dù vậy, đằng sau những con số vĩ mô tích cực, sức khỏe nội tại của cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế đang bộc lộ những thách thức đáng kể. Môi trường kinh doanh đang trải qua một cuộc thanh lọc lớn khi có tới 108.885 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 12,8% so với cùng kỳ. Đáng chú ý là số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh (15.190 doanh nghiệp, tăng 98,7%), tập trung chủ yếu ở quy mô dưới 10 tỷ đồng và thời gian hoạt động dưới 5 năm.

Bên cạnh đó, nền kinh tế vẫn đang phải thận trọng từ áp lực lạm phát và biến động cán cân thương mại. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 3,99%; lạm phát cơ bản bình quân tăng 3,89% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, riêng CPI tháng 4 tăng 5,46% so với cùng kỳ. Xuất nhập khẩu tăng trưởng mạnh với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 4 tháng đầu năm đạt 19,7%, song nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu đạt 28,7%, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 7,11 tỷ USD, phản ánh nhu cầu đầu vào sản xuất đang phục hồi, nhưng đồng thời cũng cho thấy giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế.

Chia sẻ với Mekong ASEAN, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, Việt Nam là nền kinh tế có độ mở rất cao. Do đó, mọi biến động của thị trường thế giới gần như tác động ngay lập tức đến trong nước.

Những tháng đầu năm, biến động về giá xăng dầu, giá vận tải đã kéo theo sự gia tăng của hàng loạt chi phí đầu vào khi nhập khẩu, từ nguyên, nhiên vật liệu đến các yếu tố phục vụ sản xuất. Điều này không chỉ tạo áp lực lên lạm phát mà còn làm thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất. Đồng thời, chi phí vận tải tăng cao trên tất cả các kênh cũng ảnh hưởng đến khả năng kết nối, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cả trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó, theo bà Hương, các chính sách về thuế quan, bảo hộ thương mại của các nền kinh tế lớn, cũng như của các quốc gia có cấu trúc tương đồng với Việt Nam, đang tạo ra những thách thức không nhỏ. Điều này đòi hỏi hàng hóa của doanh nghiệp Việt phải nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể duy trì và mở rộng thị phần tại các thị trường quốc tế. Những yếu tố trên cũng cho thấy, trong thời gian tới, cả nhu cầu đầu vào trong nước và nhu cầu từ thị trường quốc tế đều có thể đối mặt với không ít khó khăn.

Khuyến nghị giải pháp để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng trong năm 2026, theo Cục trưởng Cục Thống kê trước hết cần tập trung bảo đảm các cân đối vĩ mô, đặc biệt là cân đối giữa cung và cầu. Trong đó, cần chú trọng các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống người dân và các mặt hàng mang tính chiến lược của nền kinh tế.

Không chỉ lương thực, thực phẩm, điện, xăng dầu, mà các yếu tố đầu vào cho sản xuất cũng cần được quan tâm, như phân bón, vật liệu xây dựng… Bên cạnh đó, các lĩnh vực dịch vụ như vận tải, lưu trú cũng cần được điều hành phù hợp. Đồng thời, cần tăng cường các chính sách để kết nối các chủ thể trong nền kinh tế, khuyến khích sự đồng thuận giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, trong đó có việc chia sẻ, tiết giảm lợi nhuận để cùng vượt qua giai đoạn khó khăn, biến động phức tạp hiện nay.

Trong dài hạn, cần tiếp tục phát huy “kiềng ba chân” của tăng trưởng, bao gồm đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu. Trong đó, đầu tư công đóng vai trò là vốn mồi, dẫn dắt và thu hút các nguồn lực từ khu vực tư nhân, doanh nghiệp và nguồn lực quốc tế cùng tham gia phát triển. Đồng thời, tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài, không chỉ trong lĩnh vực sản xuất mà còn ở các ngành dịch vụ, du lịch. Việt Nam với môi trường ổn định, an toàn, là điểm đến hấp dẫn không chỉ cho sản xuất mà còn cho tiêu dùng và trải nghiệm.

Đặc biệt, cần thúc đẩy tiêu dùng trong nước, gắn với nâng cao thu nhập và niềm tin của người dân. Với việc đẩy mạnh phát triển thị trường trong nước, nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ, đồng thời khai thác hiệu quả các lĩnh vực du lịch, thương mại điện tử và kinh tế số, tiêu dùng nội địa sẽ tiếp tục là trụ cột quan trọng, đóng góp bền vững cho tăng trưởng kinh tế trong năm 2026 và các năm tiếp theo, theo bà Nguyễn Thị Hương.

Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương. Ảnh: NSO.

Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương. Ảnh: NSO.

“Bệ đỡ” giúp duy trì tăng trưởng ổn định trong dài hạn

Tiêu dùng nội địa đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh xuất khẩu đối mặt với nhiều bất định. Nếu khai thác hiệu quả thị trường trong nước, đây sẽ là “bệ đỡ” giúp duy trì tăng trưởng ổn định trong dài hạn.

Theo số liệu Cục Thống kê, thị trường nội địa trong quý đầu của năm 2026 đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bằng con số ấn tượng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 2.546,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,3%, cho thấy sức mua của người dân không chỉ tăng về giá trị hiện hành mà còn tăng trưởng thực chất về khối lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ.

Trong cơ cấu tổng mức bán lẻ, doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.938,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,1% tổng mức và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 317.400 tỷ đồng, tăng 13,4% và doanh thu du lịch lữ hành đạt 31.900 tỷ đồng, tăng 12,1%.

Theo TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế – Tài chính, Học viện Tài chính, nhìn lại năm 2025, quy mô thị trường bán lẻ đã chạm mốc khoảng 269 tỷ USD. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trưởng từ 9-10% so với năm 2024. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong 5 năm gần đây (ngoại trừ những biến động bất thường thời kỳ dịch bệnh), cho thấy nội lực mạnh mẽ của thị trường hơn 100 triệu dân.

Trong kịch bản tích cực, tiêu dùng tăng trưởng chính là động lực chính để đạt mục tiêu kinh tế cho cả năm 2026, tạo ra nhu cầu để kích thích nguồn cung, thúc đẩy các doanh nghiệp quay trở lại mở rộng sản xuất. Bên cạnh đó, khi tiêu dùng ngành dịch vụ và bán lẻ tăng cao, nhu cầu tuyển dụng lao động thời vụ và lao động kỹ năng có thể tăng mạnh, giúp kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp và gia tăng thu nhập trung bình của xã hội.

Thị trường nội địa không chỉ dừng lại ở vai trò tiêu thụ hàng hóa mà còn góp phần nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Việc chủ động nguồn cung trong nước, từ nguyên liệu đến phân phối, giúp giảm bớt phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro gián đoạn. Khi sức mua nội địa tiếp tục được duy trì, hệ thống phân phối được hoàn thiện và các nền tảng số phát huy hiệu quả, thị trường nội địa không chỉ là “trụ đỡ” của nền kinh tế mà còn trở thành bệ phóng giúp hàng Việt gia tăng sức cạnh tranh và mở rộng hiện diện trên thị trường khu vực.

Tuy nhiên, TS. Nguyễn Đức Độ cũng nhìn nhận, con đường này không hề bằng phẳng. Sức mua của người dân vẫn chưa thực sự bền vững, thu nhập còn hạn chế, trong khi chi phí vận hành của doanh nghiệp bán lẻ ngày càng tăng. Nếu không có nền tảng đủ vững, tăng trưởng có thể chỉ dừng lại ở quy mô, còn hiệu quả lại suy giảm.

Theo ông Độ, hiện nay, các chính sách về thuế là phù hợp nhất, góp phần làm giảm giá thành sản phẩm, giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp, vừa góp phần kiểm soát lạm phát, vừa tăng sức mua của người dân.

“Cần đặc biệt chú trọng giữ cho doanh nghiệp còn sức sản xuất, còn khả năng cạnh tranh và còn niềm tin để tiếp tục đầu tư, duy trì đơn hàng và việc làm. Khi chi phí đầu vào tăng cao, nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu sẽ chịu sức ép lớn về dòng tiền và khả năng xoay xở. Vì vậy, hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn này không chỉ là hỗ trợ từng chủ thể riêng lẻ, mà là bảo vệ năng lực sản xuất của nền kinh tế, bảo vệ việc làm và nền tảng an sinh xã hội trong dài hạn,” theo ông Độ.

TS. Cấn Văn Lực, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, cũng cho rằng, với quy mô hơn 100 triệu dân và đóng góp khoảng 62% vào tăng trưởng GDP hàng năm, thị trường nội địa không chỉ là dư địa phát triển lớn mà còn là động lực tăng trưởng chiến lược trong giai đoạn tới. Đồng thời, việc chủ động nguồn nguyên liệu, nhiên liệu từ thị trường trong nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nâng cao tính tự chủ, giảm thiểu rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và củng cố nền tảng tăng trưởng bền vững. Theo ông Lực, nếu khai thác hiệu quả thị trường trong nước, đây sẽ là “trụ cột ổn định” và là bệ đỡ quan trọng của nền kinh tế.

Mặt khác, để GDP hướng đến tăng trưởng 2 con số thì tiêu dùng nội địa cần tăng khoảng 12%/năm, cao hơn mức trung bình 8% của giai đoạn 5-10 năm qua. Vì vậy, kích cầu tiêu dùng trong nước trở thành ưu tiên hàng đầu, thông qua các chính sách giảm thuế, hỗ trợ lãi suất và đẩy mạnh chương trình khuyến khích chi tiêu.

Thực tế, năm 2026, tiêu dùng nội địa được dự báo sẽ cải thiện nhờ chính sách cải cách tiền lương, chính sách kích cầu tiêu dùng nội địa của các tỉnh, thành phố trên cả nước. Sức mua của thị trường hơn 100 triệu dân được kích hoạt mạnh mẽ sẽ tạo động lực cho các ngành dịch vụ, lưu trú, ăn uống và thương mại điện tử phát triển, đảm bảo vòng xoáy kinh tế nội địa.

Để bảo đảm sức bền của thị trường nội địa, về lâu dài, theo TS. Cấn Văn Lực, cần tập trung hiện đại hóa hạ tầng thương mại nhằm nâng cao hiệu quả lưu thông hàng hóa. Đi cùng với triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2025-2035, phát triển trung tâm logistics vùng, tăng liên kết chuỗi cung ứng, ứng dụng AI, blockchain, IoT và phân tích dữ liệu lớn để tối ưu hóa vận hành.

Bên cạnh đó, thúc đẩy thương mại điện tử, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất đưa sản phẩm lên nền tảng số. Triển khai các gói tín dụng ưu đãi, linh hoạt cho doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và các hộ kinh doanh. Ưu tiên các doanh nghiệp có tỷ lệ nội địa hóa cao và sản phẩm có hệ thống truy xuất nguồn gốc rõ ràng, đạt chuẩn xanh và ESG – đây là chìa khóa để xây dựng niềm tin của người tiêu dùng và khẳng định vị thế của thương hiệu Việt trên sân nhà.

Mặt khác, cần theo dõi sát diễn biến thị trường, chủ động phương án bình ổn giá hàng thiết yếu; tiếp tục xem xét các chính sách tài khoá, kích thích tiêu dùng cuối cùng; cải cách tiền lương và an sinh xã hội nhằm nâng cao đời sống, tạo ra tâm lý ổn định, khuyến khích chi tiêu trong dân cư.

kinh tế,việt nam,kinh tế Việt Nam,GDP,tăng trưởng GDP,Thị trường nội địa,tăng trưởng kinh tế Việt Nam,tiêu dùng,xuất khẩu,mục tiêu tăng trưởng,GDP Việt Nam,tăng trưởng hai con số#Kế #hoạch #hai #con #số #Kiên #định #mục #tiêu #với #bệ #đỡ #từ #thị #trường #nội #địa #Bài1778131682

Xem các tin khác:

Nhà 3 đến 5 tỷDanh sách nhà Hot 5-8 tỷ
NHÀ MẶT TIỀNNHÀ TỪ 8 ĐẾN 12 TỶ